Tối qua xem ti vi (lại bắt nguồn từ ti vi) thấy có một nhóm đờn ca tài tử biều diễn thấy hay quá. Nhóm này chỉ có 4 năm người, trình diễn hết sức đơn giản nhưng giọng ca nữ khiến người nghe ngất ngây, đượm không khí của đất Nam Bộ. Lại nhớ khoảng năm 2001, khi đang làm dự án đường Đại lộ Đông Tây, có một buổi trưa đến chỗ đơn vị khảo sát ở Bình Chánh chơi, em có lảng vảng đi trong khu dân cư mới ở đó. Nắng trang trang, ngõ phố vắng vẻ, có tiếng ghi ta tài tử (loại phím lõm ấy, hình như còn gọi là lục huyền cầm) réo rắt lôi em tới một ngôi nhà có một mảnh vườn nho nhỏ. Em cứ đứng nghe mãi không chán. Có gì đâu, mấy cô mấy bác hình như sinh hoạt văn nghệ với nhau ngày Chủ nhật, có hai cây đàn, trống phách gì đó (em cũng không nhìn rõ lắm). Lôi cuốn nhất là giọng ca, đúng là tài tử. Nói thật đến giờ em cũng chẳng nhớ người ta hát cái gì nữa nhưng mà giai điệu và giọng ca sâu lắng giữa nắng vàng Sài Gòn ngày ấy thì giờ em vẫn còn nhớ. Mấy bận đi tìm mua đĩa gặp mấy chú Tây mua đĩa nhạc dân tộc Việt Nam, trong khi mình người Việt lại mua toàn nhạc của chúng nó, cũng cảm thấy thế nào ấy. Đã mua thêm cả Ca trù, hát xẩm, chèo, sáo - nhị - bầu… rồi nhưng riêng đờn ca tài tử thì chưa có đĩa nào. Bác nào biết có chương trình gì của các bác tài tử này (loại mộc mạc thôi) thì mách em với nhé. Và nên chăng, có bác nào am hiểu về am nhạc dân tộc thì giảng giải thêm cho bọn em hiểu thêm về vốn âm nhạc dân tộc với. Kính các bác!
Có em đây. Cung thương hòa điệu 1 & 2 bán đầy ngoài các nhà sách FAHASA. Em là dân miền Tây gốc luôn đó, từ nhỏ tới lớn chỉ nghe mỗi món cải lương từ nhà hàng xóm hoặc từ cái radio nhỏ xíu ở nhà thôi. Sau này cải lương bị lạm dụng để tuyên truyền ... nên em chán không nghe nữa (chắc cũng có nhiều người giống em nhỉ). Rồi tập tành nghe nhạc trữ tình, tiền chiến, lấn sang Pop Rock, đu theo "da diếc" gì đó của Tây nữa. Và có một lần về quê nội, cách đường quốc lộ hơn 4 tiếng đồng hồ đi đò, ăn đám giỗ. Tối đến, sau khi đã ngà ngà say, các chú các bác nhà ta bèn rủ nhau xuống mui thuyền vừa đờn vừa ca vừa ... nhậu tiếp. Đêm hôm ấy trăng non, gió se lạnh, không gian hoàn toàn yên tĩnh ngoại trừ tiếng sóng lăn tăn vỗ mạn thuyền và tiếng xào xạc của tán bần ven sông. Bỗng dạo lên tiếng đàn nghe đến nẫu ruột cùng giọng ca trầm buồn mộc mạc cất lên. Ôi thôi, sao mà sầu thảm đến thế. Lời ca nói về tâm sự của những người Hoa chạy loạn sang nước ta thời xa xưa ấy, nhớ cha nhớ mẹ, nhớ cảnh nhớ người, rồi buồn rồi tủi cho thân phận lưu lạc này không biết nay mai sẽ ra sao. Sau một đoạn thì dừng lại uống một ly đế. Tò mò em mới hỏi một bác gần bên: đó là bài gì vậy. Bác í trả lời đó là bản "Chiêu Quân". Híc, em nào có biết gì đâu. Thôi để về SG mua đĩa nghe, rồi nghiên cứu thêm về dòng nhạc này để lần sau có cái để hùa chuyện cùng các chú các bác ấy.
Bây giờ là 15h, tui chạy ra Hàng Bài, nếu mà không thấy Cung thương gì gì đó thì bác liều liệu... mà mua giúp nhé. hì, thông báo kết quả sau nhé.
Mời bác tham khảo thông tin sưu tầm dưới đây: Chiêu Quân Cống Hồ Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ trở thành một điển tích. Tồn tại nhiều dị bản, trong đó có nhiều chi tiết còn mâu thuẫn. Nổi tiếng hơn cả là bản kể theo những tài tiệu của nhà sử học Ngô Quân (469-520). Chiêu Quân tên là Vương Tường (王牆), nên cũng được gọi là Vương Chiêu Quân (王昭君). Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tuy Quỹ, được tuyển vào nội cung đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN-33 TCN). Vì số cung phi trong hậu cung của vua Nguyên Đế quá đông, nên nhà vua ra lệnh cho các họa sĩ phải vẽ hình các cung phi để nhà vua chọn. Các cung phi thường lo lót tiền cho họa sĩ để được vẽ cho đẹp, mong vua để ý tới. Chiêu Quân từ chối đút lót cho họa sĩ là Mao Diên Thọ, hậu quả bức chân dung nàng thật xấu xí, nàng không được Hán Nguyên Đế để mắt tới. Một hôm hoàng hậu tình cờ biết tới Chiêu Quân qua tiếng đàn lâm ly ai oán của nàng. Bà đưa Chiêu Quân tới gặp Hán Nguyên Đế. Hán Nguyên Đế ngỡ ngàng vì sắc đẹp của nàng, phong Chiêu Quân làm Tây Phi. Mao Diên Thọ bị khiển trách nặng nề. Thời bấy giờ Hung Nô là nước lân bang thường xuyên mang quân sang quấy nhiễu. Mao Diên Thọ bị Hán Nguyên Đế quở trách, đem lòng oán hận Chiêu Quân, lấy chân dung Chiêu Quân nạp cho vua Hung Nô Thiền Vụ Chỉ. Vua Hung Nô say đắm sắc đẹp của nàng, cất quân sang đánh, buộc Hán Nguyên Đế phải cống nạp Chiêu Quân thì mới bãi binh. Hán Nguyên Đế đành phải đem Chiêu Quân sang cho Hung Nô. Truyền thuyết "Chiêu quân xuất tái" (昭君出塞, "Đi đến biên cương") nói rằng, khi Chiêu Quân đi ngang một hoang mạc lớn, lòng nàng chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa quê hương. Nhân lúc ngồi lưng ngựa buồn u uất, liền đàn "Xuất tái khúc". Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất. Từ "lạc nhạn" trong câu "Trầm ngư lạc nhạn" do đó mà có. Khi qua Nhạn Môn Quan, cửa ải cuối cùng, Chiêu Quân được cho là đã cảm tác nhiều bài thơ rất cảm động. Tiếng đàn của Chiêu Quân ở Nhạn Môn Quan trở thành điển tích Hồ Cầm. Ngôi làng quê hương của nàng ngày nay mang tên là làng Chiêu Quân. Dòng suối, nơi tương truyền nàng từng ra giặt vải trước khi được tuyển vào hoàng cung, được đặt tên là Hương Khê (suối thơm) để tưởng nhớ nàng. Trong miền Nội Mông Cổ có hai địa điểm được cho là mộ của Chiêu Quân, một gần Hohhot và một gần Bao Đầu, cả hai đều xanh ngắt cỏ tươi, nên đều được gọi là Thanh Trủng (mồ xanh).
Bây giờ là 16h20', ở Hàng Bài chỉ có Cung thương hoà điệu 4 (hoà tấu), vòng 1 vòng, về đến 135 Hàng Bông có đĩa 1 và 3, ngoài ra có đĩa Cung đàn phương Nam. Múc. Tối về nghiền đây (có cả bản Chiêu Quân). Kính báo
Đờn ca tài tử nhiều bản khá lắm, năm ngoái tôi đi làm , thu âm trực tiếp hai bản Đoản khúcLam Giang và Phi Vân Điệp Khúc do chính anh Văn Giỏi và anh Thanh Hải đàn, nghe thì thôi rồi.
Bác nck_cool nhớ review nhé, em không nhớ đã bao lần nghe đi nghe lại bài "Phụng Cầu Hoàng" trong đĩa của bác Tyro rồi.
Kính các bác, hơi buồn một ít vì mấy đĩa em kiếm được chỉ có phần “đờn” không có phần “ca” các bác ạ, thấy nó thiếu thiếu. Về vấn đề này em đang nghiên cứu và sẽ báo cáo các bác sau, em xin báo cáo trước về Album :Cung thương hoà điệu nhé”: Đây là chương trình “hoà tấu cổ nhạc” do Sài Gòn Audio xuất bản năm 1995, đĩa bao gồm 9 bài do các nghệ sĩ Bảy Ba, Ba Tu, Nhất Dũng, Út Tỵ, Quang Dũng, Văn Út, Mai Hoàng Thành thực hiện (em chẳng biết bác nào trong 7 bác này, thế mới ức). 1. Xuân Tình: đây là bài mở đầu, giai điệu hồn nhiên, trong sáng, bình dị, êm đềm như dòng sông gờn gợn phù xa, như những cánh cò bay lả trên những cánh đồng Nam Bộ chiều xuân, như những mối tình xuân đậm đà chung thuỷ. Giai điệu của bản hoà tấu làm ta ngây ngất. 2. Xàng xê: giai điệu hùng tráng, hào khí ngất trời mang tâm tư của một vị dũng tướng không phải trước trận tiền mà trước thiên nhiên, đất nước. 3. Quên tên rùi: giai điệu trầm buồn, sâu lắng như nỗi lòng người cô phụ mong đợi người đi. 4. Duyên kỳ ngộ: giai điệu thanh tao, tình tứ của tao nhân, mặc khách. Bộ gõ phối hợp tiếng trống nhịp nhàng, tiếng tiêu réo rắt. 5. Chiêu quân: đây là bản mà các bác đã nói đây. Có hình bóng của vị vương phi đang ôm đàn tỳ bà, ngập ngừng từ biệt Hán đế, cảnh chia ly cũng phải làm nước non u sầu. Tiếng sắc réo rắt gợi tình, tiếng tơ trầm buồn như một cặp anh hùng, thuyền quyên. Riêng tiếng tiêu trong bản này em cảm thấy hơi non thế nào ấy, không theo kịp các nhạc cụ chính. 6. Ngũ đối Hạ: bản này có hơi hướng nhạc cung đình, giai điệu trang nghiêm cung kính. Có tiếng trống nhịp khoan thai, tiếng đàn dây (hình như là đàn cò) huyền bí. 7. Văn Thiên Tường: giai điệu bản nhạc đã quá quen thuộc trong các đoạn mang tính ai oán, kêu than của các vở cải lương. 8. Nam Xuân - Nam Ai - Mái Ai: là tiếng tình tự của sông dài, biển rộng mộng mơ. 9. Vọng cổ: nếu em không nhầm thì nguyên gốc là bản Dạ Cổ Hài Lang (đêm khuya nghe trống nhớ chồng) do nghệ sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu sáng tác năm 1917 dựa trên bài Hành Vân của ca Huế. Sau này còn được sửa lời ca và đổi tên thành Vọng Cổ Hoài Lang rồi cuối cùng là Vọng Cổ. Đây là bản kinh điển của đờn ca tài tử, giai điệu duyên dáng tân kỳ và đầy sáng tạo (vẫn tiếc là không có lời). (chủ yếu là trích từ lời giới thiệu trong CD ra các bác ạ). Nói chung theo em, chương trình này khá chuyên nghiệp và mang tính thương mại cao. Nhà sản xuất đã sơm nhận thức được đối tượng khách hàng là mấy chú mắt xanh hay sao ấy (thế mới cú) nên phần giới thiệu có cả song ngữ (em thấy hơi chối khi đang nghe). Theo em thì đã gọi là đờn - ca thì không thế thiếu phần ca. Trong ca nhạc tài tử theo em được biết thì hai phần này được đánh giá là ngang bằng. Phần ca của nghệ sĩ nhiều khi được so sánh với các nghệ sĩ hát nhạc Jazz bởi tính ngẫu hứng trong khi luyến láy, gieo vần mỗi lần biều diễn lại một lần sáng tạo đầy cảm hứng. Lời ca và nhạc khí phải hoà hợp, đôi khi ở cao trào thì như là thách thức lẫn nhau. Về bản chất đây chính là phần làm nên hai chữ “Tài Tử”. Người ta giải thích tài tử có thế được hiểu là nghệ sĩ bậc thầy, có đào tạo chuyên sâu những cũng có thể được hiểu là các nghệ sĩ nghiệp dư, bao gồm cả các bậc thầy, biểu diễn không vì kế sinh nhai. Nhìn chung, bỏ qua kỹ nghệ thu âm (âm thanh có lẽ là cũng đã được điều chỉnh cho phù hợp với mục đích thương mại, không còn sự mộc mạc nhưng gai góc như đã được nghe ngoài cuộc sống, có lẽ tâm trạng lúc nghe các tài tử ở TP. HCM của em lúc ấy nó khác), đây là một CD bổ ích, có thể cảm nhận rõ chất dân tộc trong từng phần hoà tấu. Nghe xong thì cảm thấy rất khổ sở bởi mình không rõ trong đó có các loại nhạc cụ dân tộc gì, huống hồ là phân biệt tiếng của từng loại nhạc cụ như anh em vẫn thường bàn luận. Có bác nào thạo về món này không các bác ơi !
Tôi không thạo lắm, nhưng cũng biết sơ sơ. Nhạc tài tử hay ở chỗ người ta phóng túng như chất jazz, tức là chỉ cần thuộc lòng bản , còn đánh sao thì đánh , không cần đúng từng chữ (=note ở nhạc Tây). Đĩa Cung thương hoà điệu đó đánh dở lắm. Các nghệ sỹ thì xuất sắc nhưng họ chơi không có chất phiêu như ở trong vở hoặc đánh tài tử. Đĩa đó bác Bẩy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) phối, cụ là cây đàn tranh khá, nhưng cụ viết tân cổ mới là số 1. Tôi chỉ ước những bài này do NS Ba Tu đàn kìm, Văn Giỏi đàn phím lõm, Thanh Hải đàn tranh thì mới oách. Ba đại ca này đàn số 1 ở Sài Thành, và đương thời không có đối thủ. Nếu nghe Ba Tu bạn hãy mua đĩa Điệu đàn phương Nam vol 1 , ông Ba Tu đàn 3 câu vọng cổ nghe mùi mà chắc từng chữ, từng câu, là mẫu mực của đàn tài tử đó. NS Thanh Hải là nhạc trưỏng Nhà hát Trần Hữu Trang, anh đánh đàn tranh số 1 cải lương đó. Đợt rồi anh ra làm nhạc cho Cải lương Trung ương, anh em ở đó phải ghi âm lại cách đàn của Thanh Hải để học-Thanh Hải đàn nhiều cây , và anh còn chơi cả organ cho Minh Vương hát vọng cổ. Còn anh Văn Giỏi-nhạc sỹ mù thì đàn phím lõm miễn chê, mùi và gân lắm
Tìm hiểu thêm về đờn ca tài tử Nam Bộ để mở rộng tầm hiểu biết em có đọc được một bài viếtkhá thú vị xin giới thiệu để mọi người cùng tham khảo: [align=center]Tìm Hiểu Nhạc Thính Phòng Việt Nam: Đờn Ca Tài Tử[/align] Nhạc thính phòng là một thể loại nhạc gồm các bài hát hoặc bản đàn được biểu diễn trong phòng khách tại tư gia hay trong một phòng nhỏ. Nhạc thính phòng Tây phương bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ thứ 16 ở châu Âu, đặc biệt là ở Ý và Anh, do những nhóm nhỏ các nhạc sĩ, ca sĩ chuyên trình bày các bài hát rồi sau đó được phổ biến và phát triển tới việc trình tấu các bản đàn. Tại Việt Nam, từ thế kỷ thứ 10, dưới triều vua Lê và Đinh đã xuất hiện các buổi ca và múa trong cung đình, đền miếu, hoặc hội họp tại tư thất các quan tướng. Chính hình thức ca múa này đã làm nền tảng cho âm nhạc thính phòng Việt Nam ngày nay. Tựu trung, âm nhạc thính phòng Việt Nam bao gồm ca trù, ca Huế và đờn ca tài tử, phát triển mạnh từ đầu thế kỷ thứ 20. Điểm khác biệt chính yếu giữa nhạc thính phòng Việt Nam và dân ca Việt Nam là: nhạc thính phòng gồm những tác phẩm (có khi được ký âm) và người trình diễn cũng như người thưởng thức phải được huấn luyện để có thể sử dụng các nhạc cụ, trình bày tác phẩm, cũng như hiểu biết về thi ca; trong khi dân ca mang tính cách tự phát, tự diễn trong lúc lao động hoặc giải trí. Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam Việt Nam. Thuật ngữ tài tử có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, tài tử là những người tài năng (talent), những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai, tài tử là những người nghiệp dư (amateur), gồm cả những bậc thầy nhưng không lấy đó làm kế sinh nhai tham gia biểu diễn (music of the amateurs). Nền tảng của đờn ca tài tử chính là nhạc lễ (còn gọi là nhạc ngũ âm), một loại nhạc được phát triển vào thế kỷ thứ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung Bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Các ban nhạc lễ lúc bấy giờ thường gồm có các nhạc cụ gõ và dây kéo vĩ. Do nhu cầu phục vụ cho các tang lễ về khuya, nhạc lễ cần phải chơi với âm lượng nhỏ theo yêu cầu của gia chủ. Từ đó các ban nhạc lễ được tổ chức một cách gọn nhẹ hơn vàbắt đầu dùng song lang thay cho trống nhạc để giữ tiết tấu, cũng như bỏ bớt các nhạc cụ dây kéo vĩ để chỉ còn có đàn cò. Những ban nhạc lễ nhỏ gọn như vậy còn có tên gọi lànhóm đờn cây. Kể từ năm 1885 trở về sau, các nhóm đờn cây này được gọi là ban đờn ca tài tử để phân biệt với các ban nhạc lễ và nhạc hát bội đang thịnh hành song song. Một điểm khác biệt khác giữa nhạc tài tử và nhạc lễ là sự có mặt của ca sĩ. Do vậy ngoài việc hòa đàn với nhau, ban nhạc tài tử còn tham gia việc đệm đàn cho ca hát. Mặt khác, các ban nhạc tài tử dần dần không đàn cho đám tang nữa, trừ những trường hợp rất đặc biệt. Đối tượng phục vụ mới là những đám vui như đám ăn tân gia, đám cưới nhà giàu, đám thăng quan tiến chức, hoặc đám giỗ lớn. Đầu thế kỷ thứ 20, đờn ca tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn Chợ Lớn và phụ cận) , và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền Đông là ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cầm đầu cùng với các nghệ sĩ khác như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng nhóm tài tử khối miền Tây có ông Trần Quang Quờn tức Ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tư Ba người gốc Quảng Nam. Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình. Các ấn bản nhạc tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909. Riêng trong những thập niên 60 và 70, nhạc tài tử được các hãng đĩa phát hành rộng rãi trong và ngoài nước như hãng Béka, Ocora, Pathé, Việt Hải, Hồng Hoa, Marconi, và Odéon.v.v.. Từ đó nhiều danh ca, danh cầm được nhiều người biết đến. Tuy nhiên ít thấy có những trường hợp đưa nhạc tài tử lên sân khấu trình diễn như thể loại âm nhạc thính phòng phương Tây. So với các loại nhạc thính phòng khác của Việt Nam và phương Tây, trong nhạc tài tử, vai trò của những người đàn và hát là ngang nhau. Ca sĩ trong ca trù và ca Huế thường là phụ nữ, nhưng trong nhạc tài tử, ca sĩ nam và nữ đều có vai trò ca hát bình đẳng. Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của ca trù và ca Huế . Các nhạc cụ sử dụng trong nhạc tài tử thường có đàn tranh, cò, kìm, gáo, độc huyền, song lang, và ống tiêu v.v.. Khoảng từ năm 1920, đàn ghi-ta phím lõm (hay lục huyền cầm hoặc chì gọi đơn giản là ghi-ta), hạ uy cầm, và viô-lông (violon hay vĩ cầm) cũng được thêm vào trong ban nhạc. Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau; ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng âm sắc. Thường thấy nhất là song tấu đàn kìm và đàn tranh - là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắc - mà giới chuyên môn gọi là sắc cầm hảo hiệp; hoặc tam tấu đàn kìm-tranh-cò, kìm-tranh-độc huyền, tranh-cò-độc huyền với từ chuyên môn là tam chi liên hoàn pháp. Nếu một ban nhạc có 3 nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4 nhạc công và 1 ca sĩ thì gọi là ban ngũ tuyệt. Một điểm đặc biệt của nhạc Tài Tử là lối đàn ngẫu hứng - tương tự lối chơi ngẫu hứng trong nhạc Jazz của Mỹ. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với những nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa. Có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là ở phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao - hoặc người ca dùng nói lối - để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho người bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Ngoài ra, khi trình tấu, các nghệ sĩ cũng có thể dùng tiếng đàn của mình để "đối đáp" hoặc "thách thức" với người đồng diễn. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe. Đờn ca tài tử có một số lượng bài bản rất phong phú và đa dạng. Ngoài việc sử dụng một số bài bản trong nhạc lễ, còn có các bài bản từ ca Huế, dân ca miền Trung, miền Nam, và cả một số lượng lớn do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và cải biên. Do đặc tính ngôn ngữ vàsinh hoạt riêng của người miền Nam mà nhạc miền Trung đã được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử. Ví dụ bài Bình Bán của ca Huế được phát triển thành Bình Bán Vắn trong nhạc tài tử, Lưu Thủy Huế thành Lưu Thủy Đoản, Kim Tiền Huế thành Kim Tiền Bản, Phú Lục Huế thành Phú Lục Chấn, hoặc Bình Bán Huế thành Bình Bán Chấn v.v. Các bài bản phổ biến nhất trong nhạc tài tử là 20 bài bản tổ (còn gọi là nhị thập huyền tổ bản) thuộc hai điệu Bắc và điệu Nam. 20 bài bản tổ gồm có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán. Tương truyền rằng các bài bản này do ông Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn bản cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực nhạc tài tử. Một trong những bài bản nổi tiếng trong đờn ca tài tử là bản Dạ Cổ Hoài Lang - nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng - do nhạc sĩ Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1917. Dạ Cổ Hoài Lang là bài hát được phát triển dựa trên bài Hành Vân của ca Huế. Lời ca của bài hát này được sửa nhiều lần bởi các nghệ sĩ như cô Ba Vàm Lẻo, ông Nguyễn Tử Quang, ông Trịnh Thiên Tư và được nhiều người yêu thích. Về sau, Dạ Cổ Hoài Lang được đổi tên là Vọng Cổ Hoài Lang, rồi được đơn giản hóa thành Vọng Cổ. Từ năm 1945, ông Giáo Thinh tức Nguyễn Văn Thinh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn, đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền Nam (còn gọi là thất thập nhị huyền công). Theo đó, một nghệ nhân được công nhận là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ; và để đạt mức cao siêu hơn, nghệ nhân đó cần biết hết 72 bài bản này. Nhạc tài tử được phát triển mạnh ở miền Nam một phần là nhờ có khá nhiều lò dạy được mở ra ở khắp lục tỉnh và Sài Gòn. Đầu tiên, chỉ có những gia đình khá giả mới đủ tiền mời thầy ở các tỉnh khác về nhàđể dạy. Vào những năm của thập kỷ 40 và 50, các lò dạy mới bắt đầu phổ biến, nhất là tại Sài Gòn, do các nghệ sĩ từ tỉnh lên phụ trách. Những lò nổi tiếng thời bấy giờ như các lò của nghệ sĩ Chín Phàng (từ Long An), Hai Đậu (từ Tiểu Cần, Trà Vinh), Năm Lòng và Năm Được (từ Cần Giuộc). Các lò lớn nhất, nhiều uy tín, và đào tạo nhiều danh ca danh cầm nhất có thể kể đến là lò Văn Giỏi và Tấn Đạt. Các nghệ nhân nổi tiếng như Sáu Thới, Năm Xem, Ba Đồng, Út Lăng, Tư Huyện, Tư Tụi, Sáu Thoàn, Văn Vĩ, Mười Đờn, Năm Vinh, Ba Trung, Sáu Xiếu, và Nguyễn Văn Thinh cũng có nhiều đóng góp cho việc phát triển nàỵ Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam Việt Nam đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử cũng như tổ chức các liên hoan đờn ca tài tử cấp tỉnh hoặc liên tỉnh. Ở hải ngoại cũng đã và đang có nhiều cố gắng khôi phục lại thể loại nhạc thính phòng này của Việt Nam; nhưng hầu hết vẫn còn rời rạc và thiếu sự bảo trợ về mặt tổ chức cũng như tài chánh v.v.. Do chịu ảnh hưởng của sự du nhập nhạc Tây phương, các phương tiện thông tin hiện đại, và một số nhận thức sai lạc của người dân về đờn ca tài tử nên thể loại nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam này đang mất dần tính chính thống. Nhiều nơi đã thay đổi không gian thính phòng của đờn ca tài tử ûđể diễn viên hòa nhạc và hòa ca trong không gian sân khấu - nơi mà người nghe và người diễn bị tách biệt. Nhiều chương trình nặng phần trình diễn, chú trọng nhiều đến phần ca hơn là hòa đàn. Thậm chí người ca hoặc người đàn còn học thuộc lòng các bài bản ký âm theo phương Tây một cách chi tiết; và do đó làm mất đi tính ứng tác, tính ngẫu hứng đặc trưng của nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống. Mặt dù về mặt thang âm điệu thức giữa âm nhạc cải lương và âm nhạc của đờn ca tài tử không có ranh giới rõ rệt, nhưng với cùng một làn điệu, cùng một bản đàn, lối ca và hòa tấu nhạc tài tử có một số khác biệt với lối ca và hòa tấu nhạc trên sân khấu cải lương. Do không bị hạn chế vào việc diễn xuất và kịch bản sân khấu, người nghệ sĩ của nhạc tài tử có nhiều thuận lợi hơn trong việc ứng tác và chơi ngẫu hứng. Xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc đờn ca tài tử trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, ngày nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm và hệ thống hóa các bài bản của nhạc tài tử, nghiên cứu thang âm điệu thức, phương pháp ký âm v.v.. Một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản đang thịnh hành hiện nay. (Theo Hoàng Việt Khanh - Dactrung.net)
Trưa nay được xem chương trình "Dành cho người hâm mộ" trên TV giới thiệu nghệ sỹ cải lương trẻ Quế Trâm, chợt nhật thấy thêm yêu âm nhạc của Tổ quốc mình. Dường như đây là những giai điệu sâu đậm nhất trên đời. Tiếng đàn kìm day dứt nhấn nhá sau những lời ca vọng cổ như cứa vào lòng. Bao giờ lại được vào Nam để nhờ các bác đưa đi nghe cải lương nhỉ?