Bàn tròn Âm nhạc - Nhạc Jazz

Discussion in 'Âm nhạc' started by Aries, 28/12/05.

  1. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Lịch sử nhạc Jazz

    Một trong những câu hỏi lớn mà vẫn chưa được trả lời là "Nhạc jazz đã bắt đầu như thế nào?" Đĩa nhạc jazz đầu tiên được phát hành vào năm 1917 nhưng sự tồn tại của nó thì đã có từ 20 năm trước đó. Ảnh hưởng bởi nhạc cổ điển, marches(vùng cận Anh, Wale, Scotland), các bài thánh ca, bài ca lao động, nhạc cổ điển của Mỹ, blue và các dòng nhạc phổ biến trong thời bấy giờ, jazz đã tồn tại như là một thể loại nhạc không giống bất kỳ một loại nào.

    Sự sớm nhất của Jazz được thực hiện bởi những nhạc sĩ lãng du của các ban nhạc vùng New Orleans. Âm nhạc là môt phần quan trọng trong cuộc sống của người dân New Orleans từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước với các ban nhạc chuyên dùng nhạc khí bằng đồng và bộ gõ được thuê muớn để biểu diễn trong các cuộc diễu binh, tang lễ, tiệc tùng và khiêu vũ. Nó vẫn giữ quan điểm lý luận mà các nhạc sĩ (những người mà không bao giờ chơi nhạc) mà không biểu diễn một cách đơn giản các giai điệu một các liên tục nhưng vẫn tiến gần hơn nữa với các phong cách biểu diễn ấn tượng.

    Từ khi nghệ sĩ kèn Cocne Buddy Bolden (ngừơi nghệ sĩ đầu tiên được xem là ca sĩ nhạc jazz) trình diễn với ban nhạc vào năm 1895, năm này được xem là năm khai sinh ra nhạc Jazz. Trong suốt khoảng thời gian hai thập kỷ tiếp theo nhạc Jazz chỉ tiến những bước chậm chạp. Bolden (người bị bệnh thần kinh hành hạ vào năm 1906) được kế nghiệp nghệ sĩ kèn corne nổi tiếng New Orleans Freddie Keppard và ông ta là người vượt trội hơn King Oliver. Mặc dù nhiều nhạc sĩ ở vùng New Orleans đã di chuyển về phía bắc, nhưng nhạc Jazz vẫn giữ nguyên nhưng nét đặc trưng của vùng này trong suốt thế chiến thứ nhất.

    Vào ngày 30/01/1917 một nhóm nhạc hiện thực có tên là "The Original Dixieland Jazz Band" thu đĩa "Darktown Strutters Ball" và "Indiana" tại Columbia. Thứ âm nhạc kích động được xem như là loại thịnh hành tại thời điểm đó cho tới ngày 26/02 khi ODJB đến Victor và thâu đĩa "Livery Stable Blues" và "The Original Dixieland One Step." Đĩa này sau đó được tung ra ngay lập tức, "Livery Stable Blues", trở thành sản phẩm bán chạy nhất và nhạc jazz phần nào đã được biết đến. Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, các nhóm khác cũng thâu nhiều đĩa theo phong cách đầy ấn tượng của ODJB. Nhạc Jazz đuợc yêu thích trong nhiều năm liền và vào năm 1919, ban nhạc ODJB được yêu thích nhất ở London. Tuy nhiên, đó chỉ là một vài năm trứơc khi các nhạc sĩ da đen thâu các đĩa của họ, những người mà phá vở cái kết luận là người da trắng đã phát minh ra nhạc Jazz. Một loạt các phản ứng dữ dội sau đó cho người ta thấy rằng là chỉ có những người da đen chơi nhạc Jazz còn lại tất cả các người da trắng chỉ bắt chước. Điều đó chứng tỏ rằng những kết luận trứơc đó đã sai.

    Vào năm 1920, Mamie Smith ghi đĩa Blues đầu tiên, "Crazy Blues", và sau đó chẳng bao lâu có sự đổi ngôi giữa nhạc Jazz và Blue. Tuy nhiên nhạc jazz tiếp tục phát triển và ban New Orleans Rhythm Kings vào năm 1922 chơi lại những bản nhạc hàng đầu của ODJB. Năm 1923 được xem là năm bản lề cho nhạc jazz bởi vì trong suốt khoảng thời gian đó King Oliver's Creole Jazz Band, ca sĩ blue Bessie Smith và các nhà soạn nhạc Piano Jelly Roll Morton đều tung ra các sản phẩm đầu tay của mình. Trong khi King Oliver's band được xem như mang hoàn toàn phong cách của các nhóm New Orleans, thì Louis Armstrong thay đổi hoàn toàn nhạc jazz.

    Vào những năm đầu của thập kỹ 20, Chicago là trung tâm của nhạc Jazz. Vào thời gian này, Louis Armstrong nhập với ban của Fletch Henderson thành một ban nhạc lớn ở New York vào năm 1924, anh ta được biết đến như là một ca sĩ thường chơi theo phong cách nhấn âm không theo kiểu của blue. Armstrong, bằng các vũ điệu sinh động, gây ấn tượng mạnh cùng với Henderson, đuợc xem là người có nhiều ảnh hưởng trong giới biểu diễn nhạc Jazz và tạo ra một hướng đi mới với khả năng dung hợp cho nhạc jazz. Trên thực tế Louis Armstrong đã chứng minh sự thay đổi trong nhạc jazz bằng cách chuyển từ chơi theo nhóm sang solo kết hợp với vũ điệu.

    Thập niên 20 trở được biết đến như là thời của nhạc jazz (mặc dù thời kỳ này quan điểm của xã hội với âm nhạc là tự do). Nhạc jazz bắt đầu ảnh hưởng một cách mạnh mẽ lên các ban nhạc khiêu vũ và thậm chí hầu hết các ban nhạc mang tính thương mại đã bắt đầu hát solo và có tiết mục múa minh hoạ. Các đĩa nhạc gây ấn tượng của Louis Armstrong như Hot Five và Hot Seven đã tạo cảm hứng cho các ca sĩ khác để họ đứng vững trong khi đó anh ta thì phổ biến những bản nhạc jazz không lời và và một cách phân nhịp tự do chịu ảnh hưởng của Bing Crosby (người gây ảnh hưởng lên nhiều người khác). Như nghệ sĩ kèn corne Bix Beiderbecke (người có giọng tốt hơn Armstrong), nghệ sĩ Piano Jelly Roll Morton (cả hai đều chơi solo trong đĩa Red Hot Peppers của anh ta), nghệ sĩ piano James P. Johnson (ông vua của các nghệ sĩ piano), nhà soạn lời Duke Ellington và cac giọng nam cao đầy triển vọng.

    Coleman Hawkins trở thành các lực lượng quan trong trong thế giới nhạc jazz.

    Trong vòng nữa thập kỷ sau đó, các dàn nhạc lớn dựa theo phong cách jazz đã trở nên phổ biến, còn những sáng tác ngẫu hứng vốn được tìm thấy trong các ban nhạc miền nam lúc này chỉ tồn tại ở vài nhóm nhạc nhỏ. Khi tình trạng suy thoái diễn ra, đẩy các ban nhạc miền nam đến chổ tan rã trong vòng một thập kỹ. Dư luận quần chúng không muốn được nhắc đến những ngày vàng son của thập kỹ 20 và thay vào đó là những năm thịnh vượng của nhạc khiêu vũ và ballad. Tuy nhiên khi Benny Goodman đột ngột trở nên nổi tiếng vào năm 1935, các ban nhạc mới cố gắng lấy lại hình ảnh của mình bằng cách thay đổi phong cách biểu diễn để trở nên mạnh mẽ hơn. Giai đọan 1935 - 1946 được biết đến như là kỷ nguyên của các ban nhạc lớn với các dàn nhạc khổng lồ ngự trị trong biểu đồ nhạc Pop. Trong suốt thập kỷ này, nhạc jazz là một phần quan trọng của nhạc Pop. Glenn Miller và Artie Shaw đã có hàng triệu đĩa nhạc bán chạy nhất và Benny Goodman, Count Basie và Duke Ellington là những cái tên mà ai cũng biết đến.

    Trong những năm đó, nhạc jazz đã phát triển theo nhiều hướng. Các nghệ sĩ mới (như là nghệ sĩ piano Art Tatum và Teddy Wilson, nghệ sĩ saxophone Lester Young và các nghệ sĩ trumper Roy Eldridge và Bunny Berigan) đã kịp thay đổi phong cách, các ban nhạc lớn sắp xếp lại để trở nên hợp thời hơn, các ban nhạc miền nam được sống lại (Lu Watters' Yerba Buena Jazz Band là một lực lượng chính) và jazz thì trở thành một thể loại nhạc quan trọng ở châu Mỹ. Tuy nhiên thời kỳ vàng son của nó không còn nữa.

    Sự phát triển liên tục của nhạc Jazz khiến nó hiển nhiên trở thành một thể loại nhạc được công chúng yêu thích như những loại nhạc thông thường. Vào những năm đầu của thập niên 40, nhiều ca sĩ trẻ theo đuổi thể loại nhạc vũ điệu (đang sa lầy vào những sự sắp đặt rập khuôn và chưa tìm ra được hướng đi mới) và phát triển chúng thành những khái niệm của riêng mình trong biểu diễn. Giọng nữ cao Charlie Parker và nghệ sĩ kèn trumpet Dizzy Gillespie là những người sáng lập chính của một thể loại nhạc mới có tên là bebop hoặc là bop nhưng không phải chỉ có mình họ và sau đó chẳng bao lâu thì hàng tá các ca sĩ khác cũng nhập cuộc. Những vấn đề đã từng bị loại bỏ trước đây như các ca sĩ solo được yêu thích hơn trong các tác phẩm mang âm hưởng hài hoà (khiến cho các nhà phê bình phải đặt câu hỏi là "Âm điệu ở chỗ nào?"), sự hài hoà và sự nhịp nhàng trở nên phức tạp và loại nhạc này vắng bóng trong các cuộc khiêu vũ. Những đĩa nhạc được phát hành trong khoảng thời gian từ 1942 - 1944, nhằm ngăn chặn việc đánh thuế cao vào các trung tâm giải trí(như là việc một số sàn nhảy bị phải đóng cửa) và sự lớn mạnh của các ca sĩ nhạc pop dẫn đến việc hình thành các ban nhạc lớn, và việc loại bỏ nhiều sàn nhảy ở các câu lạc bộ làm cho jazz trở thành một loại nhạc kén người nghe. Bằng cách nâng lên một tầm cao của nhạc nghệ thuật, jazz đã được tách ra khỏi thế giới nhạc pop và số lượng khán giả của nó bị thu hẹp lại trong khi đó các thể loại nhạc đơn giản vươn lên để lấp vào khoảng trống đó.

    Tuy nhiên sự suy tàn trong thương mại không làm cho quá trình phát triển của jazz trong nghệ thuật chậm lại. Bop, một thể loại được xem như là nhạc cấp tiến trở thành xu thế chủ đạo của nhạc jazz vào thập niên 50. Coll jazz (hoặc West Coast jazz) là loại mà nhấn mạnh đến chất giọng mềm dẻo và sự hài hoà và là loại phổ biến trong những năm giữa thập kỹ 50, và bop mạnh phát triển từ bebop cũng có chổ đứng của nó. Thể loại này có một sự gia tăng nhanh chóng những người đi tiên phong trong việc tạo ra các khúc ngẫu hứng, điều đó tạo ra những bước đi nhanh chóng.

    Khi Ornette Coleman và nhóm tứ ca của anh được hâm mộ tại Five Spot, New York vào năm 1959, nhiều thính giả - những người mà chỉ mới bắt đầu thưởng thức nhạc của Thelonious Monk bị bối rối. Ornette và bầu đoàn của anh nhanh chóng bắt đầu với thể loại hát bè và sau đó tạo ra những khúc ngẫu hứng tổng hợp tất cả các hợp âm. Cũng trong suốt thời gian này John Coltrane , người mà làm cho nhạc bop trở nên nhiều hợp âm mà anh đã dùng trong "Giant Steps," đã bắt đầu đưa vào các phần đệm một cách chặt chẽ nhưng mạnh mẽ. Nghệ sĩ piano Cecil Taylor đã tạo ra một phong cách riêng cho jazz bằng những âm điệu trữ tình, và điệu nhảy của Eric Dolphy cũng đã góp phần tạo nên sự chuyển biến không ngờ. Đó là những người tiên phong của nhạc Jazz.

    Vào những năm giữa thập kỹ 60, nhạc jazz tự do được biết đến do sự biểu diễn của những người chơi nhạc tự do. Trong một vài năm với sự lớn mạnh của Art Ensemble of Chicago và Anthony Braxton, phong cách biểu diễn tự do được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc và vì thế vào thập niên 70 nhiều ca sĩ tiên phong đã bỏ nhiều thời gian để kết hợp những sáng tác ngẫu hứng với những sáng tác công phu. Lúc này âm nhạc không còn được phát triển một cách tự do nửa, mà các ca sĩ phải đưa các phong các tự do vào trong các bản solo của mình để tạo nên những âm hưởng thích hợp với xu thế. Mặc dù loại nhạc này cho đến nay đã bị lu mờ bởi những thể loại khác từ những năm 70, nhưng nó là sự lựa chọn của những người chơi nhạc mang phong các tự do, thoải mái và sự cách tân nó vẫn còn tiếp tục là ảnh hưởng đến dòng nhạc jazz hiện đại.

    Thập niên 70 được xem như là một kỷ nguyên lớn của sự hợp nhất, khi mà nhiều ca sĩ nhạc jazz nhập với các ban nhạc như rock, r&b và pop. Cho đến cuối thập kỹ 60, nhạc jazz và rock vẫn là hai thể loại phân khác biệt nhau, nhưng với sự gia tăng của các loại đàn phím điện tử, thì một sự hợp nhất đã diễn ra. Miles Davis, nhà cải cách của nhạc bop, một tay nhạc jazz và bop mạnh cừ khôi và những kiệt tác của ông trở thành các tác phẩm đi đầu trong quá trình hợp nhất khi ông thu đĩa In A Silent Way và Bitches Brew. Các ban nhạc được thành lập bằng cách kết hợp lại với nhau giữa một bên mang phong cách ngẫu hứng của nhạc jazz và một bên là sức mạnh vũ điệu của nhạc rock; hầu hết các ban này đều nổi danh như Return To Forever, Weather Report và Mahavishnu orchestra. Vào năm 1975, các hoạt động này đi vào thời kỳ thoái trào nhưng vì nó còn được ăn khách nên vẫn tồn tại, thường thì việc hợp nhất này là sự pha trộn hoặc mang hình thức của nhạc pop và nó được gán cho một cái tên hết sức ngượng ngùng là "Nhạc jazz hiện đại".

    Lịch sử nhạc jazz từ năm 1920 - 1975 là một quá trình phát triển xô bồ với một phong cách chỉ tồn tại trong vòng 5 hoặc 10 năm. Vào thập niên 80 nhạc bop đã làm cho nhạc jazz được xem trọng. Trong khi đó những nhóm nhạc của miền nam vẫn chơi theo một phong cách êm dịu (thể loại này phổ biến ở những năm 50), một vài thể loại nhạc jazz hiện đại vẫn mang phong cách của nó và nó là một thể loại quan trọng trong những năm trước thập kỹ 80. Wynton Marsalis người mà tạo nên biểu tượng cho thập kỹ, bắt đầu là một nghệ sĩ trumpet đieu luyện mặc dù trước đó ông là ca sĩ trong ban Miles Davis vào giữa thập niên 60. Cuối cùng anh cũng tạo được ấn tượng bằng việc khôi phục lại những nét mạnh của thời kỳ tiền nhạc bop, và kết quả là (thậm chí là ngay cả khi anh chơi các thể loại nhạc mới) Marsalis có thể đạt được một sự đổi mới bằng các vay mượn và thay đổi các ý tưởng từ quá khứ.

    Nhiều ca sĩ trẻ đã theo phong cách của Marsalis bỏ qua sự hợp nhất và thậm chí hầu hết những người này sử dụng nhạc bop mạnh làm nền cho âm nhạc của họ. Đúng hơn đó là một sự chững lại trong phong cách biểu diễn, trong đó một phong cách qua một thời gian khoảng 20 năm vẫn giống như ngày nó mới ta đời, nhưng vào thập niên 90 nhiều ban nhạc trẻ "Young Lions" cuối cùng cũng đã phát triển phong cách của họ và bắt đầu tạo ra các cải cách đầu tiên.

    Gần như các phong cách của nhạc jazz vẫn đa dạng vào thập niên 90 bao gồm các ban nhạc miền nam, jazz cổ điển, loại nhạc jazz trung dung, bop, bop mạnh, post-bop, loại nhạc mới và cả các ban nhạc hợp nhất. Sự tiền triển và sự phổ biến của nhạc jazz đã bị chững lại trong suốt 20 năm qua. Vì thế một tương lai cho nó là khó xác định được, tuy nhiên các đĩa nhạc jazz vẫn tồn tai và có thể dự đoán rằng nhạc jazz sẽ vẫn sống.

    Diệu Thúy dịch (Theo GiaiDieuXanh)
     
    Tags:
  2. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Các ngôi sao nhạc jazz - chữ tài liền với chữ tai một vần

    Kết quả nghiên cứu khoa học mới công bố cho thấy, cuộc sống của rất nhiều tên tuổi nổi tiếng trong làng nhạc jazz bị tàn lụi bởi bệnh tâm thần và ma tuý. Đặc biệt, những nhạc trưởng hay nhà soạn nhạc tài ba như Miles Davis, nguy cơ này lại càng cao.

    Tiến sĩ tâm lý học ở Stockport, Greater Manchester, ông Geoffrey Wills, đã lục tìm và nghiên cứu tiểu sử của 40 nhạc công nổi tiếng thế giới. Theo đó, Wills khẳng định rằng, số nhạc sĩ dính líu tới ma tuý nhiều gấp 8 lần, số người bị rối loạn thần kinh nhiều gấp 4 lần so với người thường.

    Wills cho hay, ông không cố gắng chứng minh rằng tất cả các nghệ sĩ nhạc jazz đều có vấn đề. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông nói rõ, họ cũng rất dễ bị tổn thương về sức khoẻ giống như nhiều nhà văn hay nghệ sĩ danh tiếng khác.

    Thời hoàng kim
    Wills đã đề cập đến cái gọi là "thời hoàng kim" của nhạc jazz Mỹ từ 1945 đến 1960. Trong số 40 nhạc công thuộc danh sách nghiên cứu, rất nhiều gia đình có lịch sử mắc bệnh tâm thần hay sử dụng chất kích thích.

    Ví dụ, cha mẹ của nghệ sĩ saxophon Art Pepper từng nghiện rượu và suy sụp sức khoẻ vì nó, còn mẹ của Stan Getz thì mắc chứng trầm cảm. Nghiện ma tuý cũng là chuyện khá phổ biến, hơn một nửa trong số nhạc công trên từng xài heroin thời gian khá dài.

    "Miles Davis, Art Pepper và Bill Evans luôn luôn có thói quen dùng cocaine", Wills nói. Tuy nhiên, Wills giải thích việc sử dụng ma tuý lan tràn trong giới nghệ sĩ nhạc jazz thời kỳ này là do: "Nhạc jazz hiện đại là cuộc cách mạng trong âm nhạc, và bị công chúng chối bỏ, heroin được coi là cách thức phản kháng".

    Cây piano Bud Powell từng thừa nhận nhiều lần tới bệnh viện thần kinh khám chữa khi nhận được kết luận của bác sĩ rằng ông mắc chứng tâm thần phân liệt. Miles Davis bị bệnh hoang tưởng, còn Art Pepper thì cứ nhìn thấy máu là kinh hoàng, khiếp sợ.

    (Diệu Thuý - GĐX- Theo BBC)
     
  3. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Louis Armstrong - bản nhạc jazz không hát thành lời

    Louis Armstrong là nghệ sĩ vĩ đại nhất của nhạc jazz. Ông được coi như một "mẫu hình của nghệ thuật trình diễn âm nhạc". Sự điêu luyện, tính cách hào hứng sôi nổi, không chút gò bó khi biểu diễn; khả năng cảm thụ nhanh, đầy sáng tạo của Armstrong đã ảnh hưởng rất lớn tới các nhạc công jazz ngày nay.

    Louis Armstrong sinh ngày 4/8/1901 trong một gia đình nghèo ở New Orleans. "Anh ấy thật phi thường", một giáo sư môn lịch sử nghệ thuật đánh giá. "Anh ấy đã làm đủ mọi công việc không biết mệt mỏi để giúp đỡ mẹ và chị gái, thậm chí là cả việc hàng đêm đứng ở góc phố hát và kiếm từng xu lẻ". Năm 11 tuổi, đúng dịp năm mới, Armstrong bị toà án xét xử trẻ vị thành niên phạm pháp đưa tới trường giáo dưỡng Jones Home vì tội... bắn chỉ thiên bằng súng ngắn. Cũng chính thời gian ở đây, ông đã tiếp thu những bài học âm nhạc đầu tiên. 18 tháng sau, ông được tự do và ước mơ thành một nhạc công cứ lớn dần. Ông tham gia chơi nhạc trong một câu lạc bộ nhỏ ở địa phương với người thầy Joe "King" Oliver.

    Đầu năm 1920, tên tuổi của Armstrong đã khá phổ biến trong công chúng địa phương. 1922, ông nhận được lời mời của Joe Oliver tham dự Creole Jazz Band tại Lincoln Gardens, Chicago. Ước mơ làm thành viên trong một ban nhạc được nhiều người biết tới của ông đã thành sự thực. Armstrong rời New Orleans đến Chicago.

    Trong thời gian này, Armstrong đã gặp Lillian, nghệ sĩ chơi piano cũng là người đại diện cho ban nhạc. Tháng 2/1924, họ tổ chức hôn lễ. Lil - một phụ nữ thông minh và nhiều tham vọng - cảm thấy rằng Louis sẽ phí phạm tài năng và thời gian nếu còn tiếp tục ở vị trí cũ. Cuối năm đó, Armstrong tách khỏi ban nhạc và tới New York chơi cho Fletcher Henderson's Orchestra. Đầu 1925, ông lại trở về Chicago và gia nhập ban nhạc của vợ. Ông thu âm đĩa nhạc thứ nhất mang tên Hot Five. Đây cũng là lần đầu tiên, dòng chữ "Made by Louis Armstrong's Hot Five & Hot Seven" được đăng tải ngay trên bìa đĩa. Tới năm 1926, ông đã trở thành ngôi sao trong những phòng thu, trên đài phát thanh hoặc ở những câu lạc bộ jazz. Tiếng kèn của ông được coi là "bản nhạc jazz không hát thành lời".

    Trong khi làm việc tại Sunset, Louis đã gặp người quản lý tương lai Joe Glaser. Đến năm 1929, ông vẫn tiếp tục chơi cho Carrol Dickenson's Orchestra với vị trí là "ngôi sao độc tấu". Tháng 2/1927, Armstrong trở thành trưởng nhóm nhạc Louis Armstrong & His Stompers tại Sunset Café, Chicago. Hơn một năm sau, Hotter than That lọt vào bảng xếp hạng 10 nhạc phẩm hay nhất, tiếp tục là West End Blues trở thành một trong những thu âm đầu tiên có tên trong Đại sảnh Vinh danh Grammy. 1929, tên tuổi Louis đã vượt khỏi tầm quốc gia. Vì bận bịu với show "Hot Chocolates" nên ông hiếm khi xuất hiện ở Luis Russell Orchestra. Armstrong tới Los Angeles năm 1930 và thành lập ban nhạc Louis Armstrong & his Sebastian New Cotton Club Orchestra. 1931, ông quay lại Chicago và tập hợp những thành viên trong ban nhạc cũ, chuẩn bị cho kế hoạch lưu diễn. Tháng 6 cùng năm, ông trở lại quê nhà New Orleans, dân chúng ở đây chào đón ông như một anh hùng. Đáng tiếc là tệ nạn phân biệt chủng tộc đã khiến ông thất vọng. Một đài phát thanh của người da trắng từ chối đề cập tới Armstrong, chương trình biểu diễn không bán vé của Louis bị hoãn lại trong những giây cuối cùng.

    Louis và Lil chia tay năm 1931. Ba năm sau đó, Armstrong hầu như luôn rong ruổi trên đường. Ông có tới hàng chục lần đi qua các thành phố của Mỹ và như con thoi tại Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na Uy, Hà Lan, Anh. Năm 1935, ông trở lại Mỹ và chính thức ký hợp đồng với "bầu sô" Joe Glaser (Glaser trở thành tri kỷ của Louis và tiếp tục làm người đại diện cho ông tới tận cuối đời mình). Một tay Glaser chịu trách nhiệm tổ chức kinh doanh để Armstrong cùng với ban nhạc tự do cống hiến những giai điệu ngọt ngào cho công chúng trong những buổi trình diễn suốt 10 năm liên tiếp. Đây cũng chính là thời kỳ hoàng kim của ''ông tổ nhạc jazz", Louis trở thành một trong những người nổi tiếng nhất tại Mỹ.

    Tuy nhiên, thành công trong sự nghiệp thì "đường tình duyên" của Armstrong lại lận đận. Vài năm sau khi ly dị Lil, Louis thành hôn với Alpha, người vợ thứ ba. Những chuỗi ngày triền miên vắng nhà, rong ruổi trên đường lưu diễn khiến chuyện vợ chồng "cơm chẳng lành, canh không ngọt". Bốn năm sau, Armstrong và Alpha chia tay.

    Gần một thập niên sau đó, Louis Armstrong Orchestra vẫn liên tục thực hiện các tour và phát hành đĩa nhạc. Tuy nhiên, vào những năm 1940, sự chú ý và sức hấp dẫn nhạc jazz của công chúng giảm dần. Louis Armstrong Orchestra có dấu hiệu "mỏi mệt", những buổi trình diễn cũng như lượng đĩa trình làng không còn "xôm tụ" như trước. Thậm chí, một số người còn lên tiếng chỉ trích Armstrong "thương mại hoá âm nhạc". Vì vậy, năm 1947, Glaser cho giải tán ban nhạc và thành lập một nhóm nhỏ hơn (sau này trở thành một trong những nhóm nhạc được công chúng yêu chuộng nhất trong lịch sử nhạc jazz). Nhóm mang tên Louis Armstrong Allstars với sự góp mặt của nhiều nhạc công nổi danh như Barney Bigard, Jack Teagarden, Sidney ‘Big Sid’ Catlett, Vilma Middleton và Earl Hines.

    Số lượng thành viên trong nhóm nhạc có sự thay đổi theo thời gian, nhưng vẫn luôn luôn giành được sự hâm mộ của công chúng khắp thế giới suốt hơn 20 năm tiếp theo. Từ châu Phi tới châu Á, từ châu Âu tới Nam Mỹ... nơi nào cũng có dấu chân họ. Armstrong được coi là "Sứ giả châu Mỹ", "Gương mặt châu Mỹ"... Năm 1963, Hello Dolly đã đưa Armstrong lên tột đỉnh vinh quang. Đĩa đơn này lập tức "hạ gục" Beatles giành ngôi quán quân trong nhiều bảng xếp hạng danh tiếng. Năm 1968, những giai điệu vui tươi, lạc quan trong What A Wonderful World một lần nữa khẳng định vị thế của ông.

    Sức lực của Armstrong bắt đầu kém dần. Ba năm cuối đời, dù phải nhiều lần cấp cứu, nhưng ông vẫn tiếp tục chơi nhạc và thu đĩa. Ngày 6/7/1971 nghệ sĩ nhạc jazz vĩ đại nhất thế giới từ giã cõi đời tại nhà riêng ở Queens, New York.

    Diệu Lê tổng hợp (Theo GiaiDieuXanh)
     

    Attached Files:

  4. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    John Coltrane - tiếng saxophone quyến rũ


    John Coltrane qua đời ngày 17/7/1967 ở tuổi 40. Hàng chục năm trôi qua, hình ảnh của ông với giới nghệ sĩ và người hâm mộ không hề phai nhạt mà càng ngày càng sâu đậm hơn, lớn lao hơn. Ngôi sao tiên phong chơi saxophone trở thành một huyền thoại nhạc jazz, sánh vai cùng Louis Armstrong hay Charlie Parker. Là một nhạc công, ít ai bì kịp với Coltrane về phong cách và kỹ thuật biểu diễn. Ông cũng rất thành danh trong lĩnh vực sáng tác tuy rằng những tác phẩm của Coltrane không được đánh giá đúng với tầm vóc của nó. Dù thế nào, người ta cũng không thể phủ nhận công trạng "mở đường" của Coltrane trong việc đưa vào cùng một tác phẩm rất nhiều thể loại âm nhạc như blues, ballads, spirituals, rhapsodies, elegies, suites...

    Thực ra, thời kỳ hoàng kim của Coltrane không kéo dài. Ông bắt đầu được chú ý tới vào năm 29 tuổi (1955), rồi tách ra biểu diễn solo năm 33 tuổi và qua đời 7 năm sau đó. Nhưng nghệ sĩ saxophone John Coltrane lại là một trong những biểu tượng quan trọng nhất, ấn tượng nhất của dòng nhạc jazz. Một may mắn khiến tên tuổi của Coltrane còn nổi hơn nhiều sau khi ông qua đời là các công ty băng đĩa thường xuyên tái bản những nhạc phẩm của ông dưới cái tên chính thức: John Coltrane.

    Coltrane là con trai của John R. Coltrane, lmột người thợ may và là một nhạc công không chuyên. Hai tháng sau ngày ông chào đời, bà ngoại của Coltrane được bầu vào một chức vị cao trong nhà thờ A.M.E. Zion. Cả gia đình Coltrane chuyển tới High Point, NC. Một thời gian ngắn sau khi ông tốt nghiệp trường phổ thông năm 1939, cả cha, ông bà và bác ruột Coltrane nối tiếp nhau qua đời, ông tới sống tại nhà người họ hàng bên ngoại. Ông tham gia một ban nhạc địa phương, chơi clarinet và lên trung học thì bắt đầu chơi alto saxophone. Trong Thế chiến II, mẹ, bác ruột và chị họ của Coltrane đến phía bắc New Jersey tìm việc làm, để ông ở lại với gia đình người bạn. Năm 1943, khi ông tốt nghiệp trung học, ông cũng "khăn gói" lên phía bắc và dừng chân tại Philadelphia.

    Coltrane theo học Trường Âm nhạc Ornstein trong khi bắt đầu biểu diễn ở những câu lạc bộ địa phương. Năm 1945, ông gia nhập lực lượng hải quân đóng tại Hawaii. Ông không hề phải chiến đấu, thậm chí còn chơi nhạc nhiều hơn. Ngày 13/7/1946, ông thực hiện bản thu âm đầu tiên cùng bốn thuỷ thủ khác. Coltrane giải ngũ mùa hè năm 1946 và trở về Philadelphia. Ông bắt đầu chơi trong ban nhạc The Joe Webb. Đầu năm sau, Coltrane lại gia nhập nhóm The King Kolax và chơi cả alto lẫn tenor saxophone, đây cũng chính là cơ hội để ông gặp gỡ với nghệ sĩ alto saxophone Charlie Parker rồi cảm nhận rằng, người nghệ sĩ tài danh này dường như trút hết năng lượng và sức lực của mình vào cây kèn. Coltrane lại chuyển sang chơi trong ban nhạc do Eddie "Cleanhead" Winson đứng đầu, Winson chơi alto nên buộc Coltrane phải chơi tenor. Không thích thú khi phải hạn chế, giữa năm 1948, ông lại gia nhập ban nhạc của Jimmy Heath cho tới khi quay về Philadelphia (1949). Ngày 1/3/1951, Coltrane quyết định rời khỏi ban nhạc lớn của Dizzy Gillespie để biểu diễn solo.

    Tuy nhiên, suốt đầu những năm 50, Coltrane bị "nàng tiên nâu" quyến rũ nên công việc gặp rất nhiều trở ngại. Ông chơi trong nhiều ban nhạc khác nhau, chủ yếu ở Philadelphia. Chỉ tới mùa xuân năm 1954, Coltrane mới bắt đầu có bước "chuyển mình" khi Johnny Hodges mời ông hợp tác. Nhưng chưa được bao lâu, mối quan hệ ấy lại không còn. Coltrane quay về Philadelphia (1954) và chơi nhạc cho Miles Davis. Khi sự liên kết với Davis có rạn nứt lớn thì cũng là lúc Coltrane bước vào con đường vinh quang của một nghệ sĩ nhạc jazz.

    Tại Đại hội nhạc jazz Newport (1955), Davis đã ký được một hợp đồng với hãng Columbia và thành lập nhóm nhạc có Coltrane, nghệ sĩ piano Red Garland, Paul Chambers (bass) và tay trống "Philly" Joe Jones. Nhóm này lập tức bắt tay vào việc thu âm không chỉ vì yêu cầu của Columbia mà còn vì rất nhiều hợp đồng trước đó mà Davis đã ký với Prestige Records. "Cơm không lành, canh chẳng ngọt" bắt đầu từ khi Davis ra sức kết thúc hợp đồng với Prestige còn Coltrane thì nhận được quá nhiều lời chào mời ở những hãng băng đĩa lớn. Sau khi tên tuổi của Coltrane trở nên phổ biến đầu những năm 60 thì Prestige và nhiều hãng khác đã chính thức ký kết với ông mà không qua ai khác.

    Đầu năm 1957, Coltrane ký hợp đồng với Prestige như một nghệ sĩ solo mặc dù vẫn ở trong nhóm nhạc của Davis và tiếp tục thu âm cho nhiều hãng khác. Ngày 31/5/1957, Coltrane đã hoàn tất album đầu tay cùng với nghệ sĩ kèn Johnny Splawn, tay baritone saxophone Sahib Shihab, Mal Waldron (piano), Paul Chambers (bass) và tay trống Al "Tootie" Heath. Tháng 6/1957, Coltrane gia nhập nhóm The Thelonious Monk Quartet gồm Monk (piano), Wilbur Ware (bass) và Shadow Wilson (trống). Album thứ hai của ông ra đời vào tháng 12/1957. Tháng 2 và 3/1958, ông thu âm cho cho Davis album Milestones (phát hành dịp cuối năm).

    Coltrane có mặt trong nhóm Miles Davis tham gia Đại hội nhạc jazz Newport tháng 7/1958. Họ cùng nhau thực hiện một LP ghi lại show diễn. Năm 1988, Columbia tái bản đĩa hát này dưới dạng album mang tên Miles & Coltrane. Down Beat - một tạp chí hàng đầu về nhạc jazz đã đăng tải bài bình luận về buổi biểu diễn này và gọi Coltrane là "tay tenor dữ dội". Liên tiếp những năm sau đó, Coltrane hoàn thành nhiều album như "Standard Coltrane" (1962), "Stardust" (1963) và "Bahia" (1965). Tháng 12/1958, khi kết thúc hợp đồng với Prestige, ông chuyển sang ký với hãng Atlantic Records.

    Tháng 3 và 4/1959, Coltrane tiếp tục cùng với nhóm nhạc của Davis thực hiện "Kind of Blue" phát hành ngày 17/81959 và lập tức trở thành album bán chạy nhất, được hâm mộ nhất trong lịch sử nhạc jazz. Coltrane cũng bắt đầu thu âm "Giant Steps" cho hãng Atlantic Records (xuất bản đầu những năm 60). Album này gồm toàn bộ nhạc phẩm do ông tự sáng tác và trình diễn. Album tiếp theo của Coltrane mang tên "Coltrane Jazz" hoàn thành cuối năm 1959 và hai năm sau được Atlantic xuất bản. Tháng 4/1960, ông rời ban nhạc của Davis và tham gia Jazz Gallery tại New York (cùng với nghệ sĩ piano Steve Kuhn - sau này McCoy Tyner thay thế, tay bass Steve Davis, tay trống Pete La Roca...) Thời gian này, Coltrane đã tăng cường chơi soprano saxophone trong khi vẫn tiếp tục nâng cao khả năng thể hiện tenor.

    Sau thành công lớn của "My Favorite Things,", Coltrane đã khẳng định vị thế ngôi sao của mình, ông rời Atlantic và đầu quân cho Impulse! "Coltrane", "Thiele" là album ra đời những năm tiếp theo. Khi "Crescent" phát hành năm 1964 với phong cách đan xen giữa truyền thống và tự do, Coltrane cùng cộng sự đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của giới phê bình âm nhạc. ''A Love Supreme" trình làng một năm sau đó mang lại cho "biểu tượng nhạc jazz" hai đề cử giải Grammy (Nhà soạn nhạc và Người biểu diễn nhạc jazz xuất sắc). Nó cũng là album có lượng tiêu thụ lớn nhất trong những album của Coltrane.

    Tháng 7/1967, Coltrane qua đời vì bệnh ung thư. Ông để lại rất nhiều nhạc phẩm chưa kịp phát hành như "Live" at the Village Vanguard!, Om, Cosmic Music, Selflessness, Transition, Sun Ship, Afica/Brass, Vol. 2, Interstellar và First Meditations. Tất cả những sáng tác này sau đó được Impulse! xuất bản và "một chuỗi" những đề cử Grammy liên tiếp đến với Coltrane như: Nghệ sĩ jazz xuất sắc nhất; Nhóm nhạc jazz hay nhất... Năm 1981, với "Bye Bye Blackbird", ông giành hai giải Grammy dành cho nghệ sĩ nhạc jazz xuất sắc, nghệ sĩ độc tấu xuất sắc. 25 năm sau khi ông qua đời, năm 1992, công chúng hâm mộ lại một lần nữa nhắc tới tên ông, tìm kiếm những album của ông khi giải Grammy Lifetime Achievement được trao cho John Coltrane - tiếng saxophone quyến rũ.

    Tú Trúc tổng hợp (Theo GiaiDieuXanh)
     

    Attached Files:

  5. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Những nghệ sĩ guitar nhạc jazz nổi tiếng

    Họ là mẫu mực, hình tượng không chỉ trong làng nhạc jazz nói riêng, mà còn là biểu tượng của cả giới nghệ sĩ nói chung. Cuộc đời họ dù dài hay ngắn, sự thành công dù là chốc lát hay mãi mãi toả sáng, đời tư họ dù sung sướng hay đau khổ thì cái đích chung họ vươn tới và đạt được đều là "cống hiến cho nhạc jazz những hơi thở mới, những bước chuyển mình đầy sáng tạo". Họ là những nghệ sĩ chơi guitar điển hình của nhạc jazz...

    Charlie Christian
    Công chúng yêu nhạc jazz, dân chơi nhạc jazz đều công nhận một điều rằng, suốt đời họ không thể trả hết "món nợ ân tình" với thiên tài guitar Charlie Christian. Charlie đã thực hiện một cuộc cách tân khi sử dụng cây guitar có bộ khuếch đại điện tử. Sau này, ngoại trừ Wes Montgomery, còn hầu hết các nghệ sĩ guitar trong lịch sử nhạc jazz đều ít nhiều ảnh hưởng phong cách biểu diễn của anh.

    Sinh ra ở Dallas, Texas vào năm 1916, Charlie theo gia đình tới định cư tại thành phố Oklahoma từ khi còn nhỏ. Chrisstian là một gia đình có truyền thống về âm nhạc. Mẹ của Charlie chơi piano và cha thì rất thành thục với cây trumpet. Gia đình Christian sống tại một vùng dành cho người da đen nghèo phía đông thành phố Oklahoma. Charlie lăn lộn kiếm sống từ sớm, anh mê âm nhạc đến mức khi gia đình không đủ tiền mua cho Charlie chiếc guitar, anh đã "hì hục" tự làm một cây đàn bằng những vỏ thuốc lá và mảnh gỗ vụn.

    Tốt nghiệp trường trung học tại Douglass, Charlie đã tự mình tìm ra và rèn luyện phong cách chơi nhạc jazz độc đáo. Nhiều người cho rằng, anh chịu ảnh hưởng lớn từ Lester Young. Cách chơi nhạc của Charlie khiến người nghe đã lầm tưởng rằng, họ đang thưởng thức những âm thanh phát ra từ chiếc saxophone chứ không phải guitar. Charlie bắt đầu những chuyến lưu diễn với ban nhạc địa phương dẫn đầu là Alphonso Trent, với tư cách là một tay bass và sau đó chuyển sang chơi nhạc cụ (sau này trở thành thương hiệu của anh) - cây guitar Gibson ES-150 với một bộ cảm biến điện từ và một bộ khuếch đại điện tử.

    Trong một chuyến lưu diễn vòng quanh thành phố Oklahoma vào năm 1939, nghệ sĩ piano Mary Lou Williams đã được nghe Christian biểu diễn tại Ritz Cafe. Mary sung sướng báo với John Hammond, nhà quản lý hãng thu âm Columbia Records rằng "đã tìm ra một thiên tài". Hammond nổi tiếng là người phát hiện ra những nghệ sĩ nhạc jazz trứ danh. Ông đã trình làng các thu âm đầu tiên của cả Count Basie Orchestra và Billie Holiday. Sau khi đến Oklahoma để "đích mục sở thị" tài năng của Charlie, ông đề nghị anh tham gia tour diễn, rồi tại California, Charlie đã gặp Benny Goodman.

    Tháng 8/1939, Goodman ngay lần đầu tiên tiếp xúc với Charlie đã phải bật cười khi nhìn thấy bộ trang phục biểu diễn của Christian - một bột comple màu xanh sáng với chiếc mũ cao bồi. Goodman không thích nhận thêm thành viên mới vào ban nhạc nhưng Hammond đã tự ý dành cho Christian một vị trí trong đó mà không cần hỏi ý Goodman. Benny có ý cáu giận và yêu cầu Charlie chơi một bản nhạc mà ông khẳng định là, một nghệ sĩ guitar ở vùng quê hẻo lánh như Okhaloma không thể thực hiện nổi. Thế rồi, Benny đã đứng ngớ người khi những giai điệu đầu tiên cất lên. Bộ năm của Benny Goodman trở thành nhóm bộ sáu.

    Nhóm bộ sáu Benny Goodman với Charlie đã thực hiện nhiều thu âm nhạc jazz nổi tiếng như "Flying Home," "Seven Come Eleven," "Soft Winds," "A S-m-o-o-t-h One," và "Air Mail Special." Mặc dù Gooman được xem như là một nhà soạn nhạc của nhóm, nhưng chính Charlie Christian mới là người tạo ra "độ nhấn" cho ban nhạc. Tiếc thay, sự nghiệp đang trên bước đường tiến tới đỉnh vinh quang thì Charlie mắc bệnh lao và rời nhóm nhạc năm 1941. Chưa đầy một năm sau, anh qua đời khi mới 23 tuổi.


    Billy Bauer
    Billy Bauer, sinh ra tại New York năm 1915, được đánh giá là một nghệ sĩ guitar chuyên nghiệp ngang hàng với Johnny Smith và Jimmy Raney. Anh chơi cùng nhóm với Jerry Wald trước khi gia nhập Woody Herman năm 1944. Hai năm sau, anh lại "hội quân" với Benny Goodman và Jack Teagarden.

    Ngay khi chơi trong những nhóm nhạc, Billy Bauer đã tự mình khẳng định vị trí solist. Cùng với một số thành viên khác, Billy luôn được xem là "điển hình" khởi đầu của be-bop guitar. Nhưng, quan trọng hơn cả là Billy trở thành một trong những nghệ sĩ đi đầu phong trào "cải tiến cách chơi" trong làng nhạc jazz. Những thu âm bộ ba và bộ đôi do Bauer thực hiện với Tristano trong khoảng thời gian 1945 thường được quan tâm mạnh mẽ. Tristano và Bauer phối hợp rất nhịp nhàng. Các bản nhạc khó hiểu của Tristano lại tỏ ra phù hợp với phong cách guitar của Bauer.

    Billly Bauer tiếp tục sự nghiệp Lee Konitz trong thập niên 50 và 60. Cũng như với Lennie Tristano, Bauer "cực kỳ thông hiểu tâm hồn" Konitz. Tiếng saxophone réo rắt của Konitz như "gắn kết hai làm một" với giai điệu guitar tuyệt vời của Bauer. Vào đầu năm 1956, Billy Bauer tiến hành một thu âm mang tên mình. Plectrist đã đưa Bauer lên vị trí hàng đầu những cây guitar nổi tiếng của nhạc jazz.

    Billy Bean
    Nếu bạn thống kê một cách đầy đủ các nghệ sĩ guitar nổi danh thì Billy Bean nhất định không thể thiếu trong danh sách ấy. Anh được xem là cây guitar nổi tiếng vào thập niên 50 bên cạnh những tên tuổi khác như Jonny Smith, Jimmy Raney và Jim Hall. Nhưng chúng ta khó mà tìm đựơc một thu âm của anh. Điều này khiến chúng ta tự hỏi, tiếng tăm của con người có thể đến mức thế nào? Cơ may khi bạn nghe một bản solo của Bean, và lập tức bạn sẽ biết tại sao, ngay cả những đồng nghiệp của ông cũng rất xem trọng ông.

    Billy Bean bắt đầu chơi guitar tại quê nhà ở Philadelphia. Thời gian ông tới New York thì tên tuổi của ông với cương vị là nhạc công và nghệ sĩ guitar đã lan rộng. Tại đây, ông hợp tác với rất nhiều nghệ sĩ nhạc jazz nổi tiếng như Bud Shank, Red Callender và Charlie Ventura. Ông thực hiện bản thu âm đầu tiên với Red Callender vào giữa những năm 50 rồi sau đó trình làng hai album đặc sắc cùng Charlie Ventura. Thời gian này, ông còn cùng làm việc với cây guitar khác là John Pisano. Họ đã hoàn thành hai thu âm với thành công "không thể tưởng tượng nổi" đương thời là Take Your Pick và Makin' It.

    Cũng như hầu hết những nghệ sĩ guitar nổi tiếng nhất trong nhạc jazz, Billy Bean cũng rất vất vả trong việc tìm kiếm, phát triển và giữ vững một phong cách độc đáo với nhạc cụ mà mình đã chọn. Anh tâm sự: "Cây guitar là cách thể hiện tốt nhất cảm xúc, ý tưởng của tôi. Hay nói cách khác, vấn đề ở chỗ là bạn phải tìm ra con đường vượt qua chính bản thân mình. Tôi đã cố gắng nhiều để đạt được điều đó!"

    Kenny Burrell
    Kenny Burrel (1931) bắt đầu sự nghiệp âm nhạc tại Detroit trong khi còn là một sinh viên tại trường đại học Wayne State. Anh là một nghệ sĩ tiên phong chơi trên sân khấu nhạc jazz ở Detroit vào lúc thực hiện thu âm đầu tiên với Dizzy Gillespie (Tin Tin Daeo và Birk’s Works năm 1951). Năm 1955, anh đến New York. Một năm sau, anh liên tiếp cộng tác cùng Frank Foster, Frank Wess, Thad Jones, Tommy Glanagan... trong khi vẫn khi tiến hành thu âm Introducing Kenny Burrell, All Night Long và All Day Long với Donald Byrd.

    Midnight Blue ra đời năm 1963 và từ giữa năm 1963 - 1970, Kenny Burrel tiếp tục công việc tại các phòng thu ở New York cùng với sự trợ giúp của Hank Jones và Illinois Jacquet. Vào năm 1964 Guitar Forms ra đời rồi tới A Generation Ago Today, đều là những nhạc phẩm nhận được sự hoan nghênh lớn của công chúng hâm mộ. Đầu thập niên 70, Kenny Burrell chuyển đến California và bắt đầu ký hợp đồng với công ty Fantasy and CTI và sau đó là Concord Records. Burrell tham gia một khoá học nhạc tại Duke Ellington, UCLA. Năm 1975, Burrell phát hành một album tưởng nhớ tới Duke Ellington, có tên là Ellington Is Forever. Trong suốt ba thập niên từ 60 đến 80, Kenny Burrell trình làng khá nhiều album. Từ Introducing Kenny Burrell (1956) tới Lucky So và So (2001).

    Như nhiều nghệ sĩ guitar khác, Kenny Burrell đựơc tôn vinh là nghệ sĩ hoàn hảo và tiên phong trong lĩnh vực guitar. Ngày nay, Kenny Burrell tiếp tục có ảnh hưởng trong cộng đồng guitar nhạc jazz và xa hơn nữa là giá trị của guitar nhạc jazz. Anh lấy bằng BA chuyên ngành âm nhạc tại đại học Wayne State, học vị tiến sĩ danh dự của trường đại học William Paterson. Burrell là giáo sư bộ môn guitar và giám đốc chương trình nhạc Jazz tại UCLA. Anh cũng là người đồng sáng lập và là chủ tịch danh dự của Jazz Heritage Foundation, thành viên của Hiệp hội những nhà soạn nhạc, tác giả và xuất bản Hoa Kỳ...

    Joe Cinderella
    Joe Cinderella bắt đầu chơi guitar từ năm 9 tuổi. Vào năm 16 tuổi, anh đã được so sánh với Django Reinharadt và Charlie Christain. Anh học guitar cùng Frank Staffa. Trong thập niên 50, anh đã hợp tác cùng Vinnie Burke thu âm East Coast Jazz 2 và Chris Connors (Sings Lullabys For Lovers). Năm 1959, tạp chí Downbeat đăng bài về anh và bình luận rằng: "Joe là cây guitar đáng chú ý''.

    Những năm sau đó, Joe đã làm việc cùng Gil Mellé cho Blue Note và Prestige Records. Các thu âm với Mellé là Primitive Modern và Patterns in Jazz đã đem về cho Joe Cinderella giải Concert Associates Player của năm. Trong thập niên 60, Cinderella tập trung cho những kế hoạch biểu diễn với truyền hình hay đài phát thanh. Anh đã chơi nhạc đệm cho nhiều ca sĩ nhạc pop tên tuổi như Billy Joel...

    Năm 1969, Joe Cinderella làm trợ giảng môn âm nhạc tại Paterson Sate (New Jersey). Joe đã lập ra một chương trình giảng dạy guitar nhạc jazz ở Paterson và chương trình này trở thành mô hình cho các chương trình nhạc jazz của các trường đại học khác trên khắp nước Mỹ. Joe đã là tác giả của nhiều tài liệu về giảng dạy guitar. Năm 2000, Joe Cinderella phát hành Concept, đây là tập hợp những bài viết về cách chơi guitar 8 dây.

    Diệu Lê tổng hợp (Theo GiaiDieuXanh)
     

    Attached Files:

  6. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Duke Ellington - cây đại thụ nhạc jazz

    Thời của ông đã qua, nhưng tên tuổi ông còn mãi, ông được đánh giá là một trong những nhà soạn nhạc - nhạc công vĩ đại nhất thế giới. Chính phủ Pháp đã trao cho ông giải thưởng danh giá nhất Legion of Honor. Còn nhà cầm quyền Mỹ thì giành cho ông huân chương cao quý Presidential Medal of Freedom. Trong suốt 50 năm kể từ khi bắt đầu sự nghiệp âm nhạc, ông có mặt thường xuyên trong những buổi biểu diễn trước công chúng. Ông tham gia 20.000 show trên toàn thế giới. Ông là Duke - Duke Ellington.

    Duke Ellington là một nhà soạn nhạc quan trọng nhất trong lịch sử nhạc jazz, cũng là người đứng đầu ban nhạc, "bẻ lái chèo thuyền" cho ban nhạc liên tục gặt hái thành công trong suốt nửa thế kỷ. Ellington sử dụng ban nhạc của mình như "một phòng thí nghiệm" cho các bản nhạc mới sáng tác, đồng thời cùng những thành viên khác chia sẻ mọi cảm xúc trong mỗi tác phẩm. Ellington còn viết khá nhiều tổng phổ cho nhạc phim và sân khấu. Nhiều tác phẩm khí nhạc của ông đã trở thành "chuẩn mực". Ellington dù đã qua đời hơn 1/4 thế kỷ, nhưng đến nay, người ta vẫn còn ghi nhớ rất nhiều tác phẩm ông sáng tác hay thể hiện.

    Ellington lớn lên trong môi trường khá thuận lợi. Ông bắt đầu học piano từ năm 7 tuổi và viết nhạc ngay từ khi còn vị thành niên. Ellington rời trường trung học năm 1917 với mong muốn dồn hết tâm sức vào sự nghiệp âm nhạc. Từ lúc khởi sự, ông tham gia biểu diễn tại các ban nhạc ở Washington D.C., nhưng vào tháng 9/1923, the Washingtonians - ban nhạc gồm 5 thành viên (trong đó có Ellington) đã khăn gói đến New York. Tại Câu lạc bộ Hollywood (sau này đổi tên thành Câu lạc bộ Kentucky) ở Quảng trường Thời gian, những buổi biểu diễn của họ đã thu hút nhiều công chúng hâm mộ và mang lại lợi nhuận không nhỏ. Ban nhạc thu âm đĩa đầu tiên vào tháng 11/1924.

    Ban nhạc dần dần trưởng thành và lớn mạnh dưới sự lãnh đạo của Ellington. Họ chơi thành phong cách đặc biệt mà người ta hay gọi là "kiểu phóng túng, hỗn độn". Một trong những "con át chủ bài" tạo nên nét độc đáo của ban nhạc là tiếng trumpet của James "Bubber" Miley. Khúc nhạc dạo đầu của Ellington - "East St. Louis Toodle-oo" đã được ban nhạc thu âm (với Vocalion Records) tháng 11/1926. Tháng 7/1927, nó trở thành single đầu tiên được Columbia phát hành dưới dạng phóng tác.

    Ngày 4/12/1927, ban nhạc của Ellington rời đến Câu lạc bộ Cotton ở Harlem. Sự thành công của họ tại đây đã khiến tên tuổi của Ellington được toàn nước Mỹ biết đến thông qua những phương tiện truyền thông đại chúng. Năm 1928, Ellington có hai nhạc phẩm nổi danh: "Black and Tan Fantasy"/"Creole Love Call" và "Doin' the New Low Down"/"Diga Diga Doo" do Harlem Footwarrmers phát hành. "The Mooche" đã giành ngôi quán quân trong bảng xếp hạng của Mỹ một năm sau đó.

    Trong khi tiếp tục công việc tại Câu lạc bộ Cotton Club, Ellington đã cố gắng đưa ban nhạc của mình mở rộng phạm vị biểu diễn ở Broadway. Mùa hè năm sau, ban nhạc lại lên đường đến California và cùng xuất hiện trong bộ phim Check & Double Check. Góp phần không nhỏ vào thành công vang dội cho phim, "Three Little Words" trở thành ca khúc đứng vị trí thứ nhất của Victor tháng 11/1930.

    Ban nhạc Ellington rời Cotton tháng 2/1931 và bắt đầu thực hiện những tour lưu diễn. Cùng thời gian này, Ellington với bản phóng tác dành cho nhạc khí "Mood Indigo" (do Victor phát hành) đã lọt vào top Five tại Mỹ. Thu âm này về sau được đưa vào Đại sảnh Vinh danh Grammy. Cũng như "The Jungle Band", the Ellington Orchestra đã có tên trong bảng xếp hạng của Brunswick cuối năm 1931 với "Rockin' in Rhythm" và tác phẩm dài mang tên "Creole Rhapsody," "Limehouse Blues" sau đó liên tiếp hiện diện trên Victor tháng 8/1931. Mùa đông năm sau, "It Don't Mean a Thing (If It Ain't Got That Swing)" - hợp tác cùng Ivie Anderson - đã giúp Ellington lọt vào bảng xếp hạng Top Ten của Brunswick và được xem là một trong những ca khúc đáng ghi nhớ nhất của ông.

    The Ellington Orchestra lại xuất hiện trong một bộ phim khác với tiêu đề Murder at the Vanities mùa xuân năm 1934. Nhạc phẩm "Cocktails for Two" do các thành viên trong ban nhạc thể hiện đã giành vị trí quán quân của Victor tháng 5, và lọt vào Top Five trên Brunswick. Tiếp sau đó, ban nhạc còn tham gia phim Belle of the Nineties và kiêm cả phần trình diễn nhạc phim Many Happy Returns. Cuối năm đó, người ta thấy tên họ xuất hiện trong bảng Top Ten cùng "Saddest Tale". Năm 1935, họ có tới hai nhạc phẩm chen chân trong Top ten là "Merry-Go-Round" và "Accent on Youth." Ban nhạc trở lại Hollywood năm 1936 và thu phần nhạc cho phim A Day at the Races và Hit Parade of 1937. Thời gian này, có rất nhiều tác phẩm dành cho nhạc khí của Ellington được đánh giá cao như "Diminuendo in Blue" và "Crescendo in Blue" hay "I Let a Song Go out of My Heart."

    Cuối những năm 30, ban nhạc Ellington phải đối mặt với một vài khó khăn lớn, họ vắng bóng trên các bảng xếp hạng. Năm 1939, Billy Strayhorn - nhà soạn nhạc, người cải biên, nghệ sĩ piano trẻ - trở thành thành viên chính thức của ban nhạc. Mặc dù không thường xuyên biểu diễn nhưng Billy đã trở thành một "cộng sự soạn nhạc" cùng Ellington, hỗ trợ và thậm chí bổ sung cho ông. Sự góp mặt của tay bass Jimmy Blanton (tháng 9) và nghệ sĩ tenor saxophon Ben Webster (tháng 12) đã "phục hưng" thời hoàng kim của ban nhạc. Mùa hè năm 1941, "Take the 'A' Train," - chuẩn mực của swing ra đời. Cuối năm đó, thu âm này được đưa vào Đại sảnh Vinh danh Grammy.

    Mỹ bước vào Thế chiến II tháng 12/1941, sự lớn mạnh của ban nhạc Ellington cũng giảm dần. Tuy nhiên, bản thân ông lại trở nên "tích cực" hơn. Thời gian này, ông cho ra đời rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng như "Never No Lament", "Don't Get Around Much Anymore", "Concerto for Cootie"... Riêng "Do Nothin' Till You Hear from Me" sau gần bốn năm thu âm đã giành ngôi đầu trong bảng xếp hạng R&B năm 1944. Hàng loạt đĩa của Ellington "tung hoành" trong các bảng xếp hạng R&B suốt từ năm 1943-1944.

    Cuối chiến tranh, thời kỳ những thu âm của ban nhạc Ellington cũng sắp kết thúc, nhưng khác với những người lãnh đạo các ban nhạc lớn thông thường là có thể giải tán ban nhạc khi kỷ nguyên swing qua đi, Ellington vẫn tiếp tục tổ chức các tour lưu diễn cho ban nhạc. Ngày 7/7/1956, ban nhạc của ông đã "nổi đình nổi đám" tại lễ hội nhạc jazz Newport với "Dimuendo and Crescendo in Blue". Hình ảnh Ellington xuất hiện trên trang nhất tạp chí Time, ông ký kết hợp đồng mới với Columbia Records để phát hành Ellington at Newport - một album bán chạy nhất trong sự nghiệp âm nhạc của ông.

    Thời gian cuối đời, ông rất bận rộn cho chuyến du lịch vòng quanh thế giới.

    Năm 1959, Ellington xuất hiện trong phim Anatomy of a Murder, phần nhạc thu đã mang về cho ông ba giải Grammy gồm: Nhạc phim hay nhất, Ban nhạc biểu diễn xuất sắc nhất và Tác phẩm âm nhạc của năm. Ông được đề cử một giải Academy Award cho Paris Blues (1961).

    Năm 1966, ông lại giành giải Grammy cho tác phẩm nhạc jazz hay nhất với "In the Beginning, God". Năm 1967, album "Far East Suite" lại góp thêm một giải Grammy nữa cho Ellington. Hai năm sau, ông giành giải Grammy thứ sáu với "And His Mother Called Him Bill" - một nhạc phẩm tưởng nhớ Strayhorn - người đã qua đời năm 1967. Tiếp đến, "New Orleans Suite" lại đóng góp vào "bộ sưu tập Grammy" của Ellington năm 1971.

    Ellington tiếp tục biểu diễn cho tới khi ngã bệnh (ung thư phổi) mùa xuân 1974. Tuy nhiên, cái chết của ông không hề đặt dấu chấm hết cho ban nhạc. Con trai ông là Mercer tiếp tục cương vị của cha cho tới năm 1996. Trong buổi kỷ niệm Ellington 100 tuổi (1999) có rất đông người tham dự. Dù qua đời, nhưng ông vẫn tiếp tục được công nhận là một trong những "linh hồn" của nhạc jazz.

    Tú Trúc tổng hợp
    (Theo GiaiDieuXanh)
     

    Attached Files:

  7. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Anthony Braxton - người ''cách tân'' nhạc jazz


    Anthony Braxton được giới phê bình đánh giá là người có ảnh hưởng lớn đến âm nhạc cuối thế kỷ 20. Vừa là cây saxophon tài năng vừa là một nhạc sĩ giỏi giang, vai trò của ông được so sánh với những tên tuổi như Warne Marsh, John Coltrane, Paul Desmond, Ornette Coleman, Albert Ayler, Charles Ives, Harry Partch và John Cage. Người ta tìm thấy trong những tác phẩm của ông ''sự cách tân'' về âm sắc, nhịp điệu kết hợp với kỹ thuật rất ấn tượng... Tất cả đã góp phần tạo nên truyền thống mới của âm nhạc châu Âu thế kỷ 20 được Schoenberg, Stockhausen, Xenakis, Varese và nhiều người khác định hình.

    Ông sinh ngày 4/61945 ở Chicago, Illinois (Mỹ). Braxton bắt đầu chơi clarinet hồi học trung học, ông tiếp cận và nghiên cứu âm nhạc tại Wilson Junior College, rồi gia nhập quân đội Mỹ. Trong quân ngũ, Braxton không ngừng rèn luyện kỹ năng sử dụng clarinet và alto saxophone. Năm 1966, ông trở thành thành viên của Hiệp hội vì sự tiến bộ của các nhạc sĩ mới Chicago (AACM). Đây là một tổ chức liên kết những nhà sáng tác trong đó có khá nhiều tên tuổi nổi tiếng như Muhal Richard Abrams và Roscoe Michell. Braxton tự thành lập một nhóm của riêng mình (sau này lấy tên là Creative Construction Company) với sự tham gia của Leroy Jenkins và Leo Smith.

    Thu âm đầu tiên của họ ''3 Compositions Of New Jazz'' hoàn thành năm 1968. Ngay từ ấy, họ đã được xem là ''kiểu mẫu âm nhạc, âm nhạc điển hình'' của chủ nghĩa thực nghiệm mới Chicago với ''độ nhấn'' về âm thanh, kết cấu bố cục từng nốt nhạc, đối lập hẳn với âm nhạc của John Coltrane bấy giờ đang thịnh hành tại New York. Braxton còn tiếp nối xu thế ''thuyết đa công cụ'' mà AACM hướng tới, trở thành ''điểm sáng'' trong gia đình saxophone, clarinet và sáo. Tuy nhiên, alto sax vẫn là loại nhạc cụ chính mà ông sử dụng. Cuối năm 1968, ông thực hiện album đôi ''For Alto'', nó cũng chính là thu âm saxophone dài solo đầu tiên.

    Năm 1969, Creative Construction Company chuyến đến Paris rồi giải tán trong khoảng một năm. Braxton trở về Mỹ và kiếm sống với nghề chơi cờ chuyên nghiệp. Năm 1970, ông cùng Chick Corea, Dave Holland và Barry Alschul thành lập nhóm Circle, nhưng rồi sự ''cùng thuyền cùng hội'' không được vững vàng, nhóm giải tán còn Braxton lại tới Paris, tại đây, ông bắt đầu biểu diễn với một số cộng sự châu Âu. Năm 1974, nhà sản xuất Michael Cuscuna đề nghị ông ký một hợp đồng với Arista Records. Braxton về Mỹ thu âm và biểu diễn trong bộ tứ gồm Holland, Altschul và Kenny Wheeler (George Lewis sau này thay thế ông).

    Sáu năm tiếp theo, Braxton hoạt động khá nhiệt tình trong Arista. Tuy nhiên, cũng vì thế, ông nhanh chóng trở thành hình mẫu ''gây nhiều tranh cãi'' trong giới nhạc jazz với hàng loạt thu âm phát hành như For Trio (1978), For Four Orchestras (1978) và For Two Pianos (1982)... Phần lớn tác phẩm của ông bắt nguồn cảm hứng từ những sáng tác của Schoenberg, Stockhausen và John Cage. Vị thế Braxton ở đương thời ngày một lớn dần.

    Braxton không bao giờ phủ nhận tình yêu của ông với nhạc jazz, lúc nào ông cũng khẳng định: Coltrane, Paul Desmond và Warne Marsh là ''những mẫu hình'' và ảnh hưởng rất lớn tới ông, đặc biệt về phương diện sử dụng saxophone. Trong suốt thập niên 70, ông tập trung sức lực cho một số đĩa (hợp tác với tay trống bebop vĩ đại Max Roach) và bộ sưu tập. Rất nhiều người cho rằng, đó chính là thời gian Braxton hoàn thành những thu âm hay nhất của mình. Thập niên 80, âm nhạc của Braxton thiên về chủ nghĩa thần bí. Ông trình làng một chuỗi tác phẩm mang nội dung ''nghi lễ tôn giáo'' mà đỉnh điểm là 12 vở nhạc kịch tiêu đề "Trillium".

    Mặc dù bắt đầu với nghề thầy giáo ở Wesleyan College, Connecticut, ''sức sản xuất'' của Braxton những năm 80 vẫn rất dồi dào. Ông viết gần 400 tác phẩm, thực hiện 70 thu âm với vai trò nòng cốt và góp sức hoàn thành hơn 50 đĩa nhạc khác.

    Mặc dù còn có một số người theo chủ nghĩa truyền thống thái quá phê bình chỉ trích, nhưng tất cả đều không thể phủ nhận vai trò quan trọng của Braxton như một nhà ''cách tân'' trong thế giới nhạc jazz. Người ta gọi ông là con người có ''hai cảm hứng, hai niềm say mê'' với cả jazz và nhạc cổ điển.

    Những album với tư cách là người đứng đầu:

    Three Compositions of New Jazz - Delmark DS 423
    Live at Moers Festival - Moers 01002
    In The Tradition - Steeplechase 1015
    In The Tradition - Steeplechase 1045
    Dortmund (Quartet) 1976 - hat Art 6075
    Performance (Quartet) 1979 hat Art 6044
    Composition 99, 101, 107, and 138 - hat Art 6019
    Four Compositions (Quartet) 1983 - Black Saint BSR 0066
    Composition 113 - sound aspects 003
    Four Compositions (Quartet) 1984 - Black Saint BSR 0086
    Quartet (London) 1985 - Leo LR 200/201
    Quartet (Birmingham) 1985 - Leo LR 202/203
    Five Compositions (Quartet) 1986 - Black Saint BSR 0106
    Six Monk's Compositions (1987) - Black Saint 120 116
    19 (Solo) Compositions 1988 - New Albion Records NAO23
    London (Solo) 1988 - Impetus IMP 18818
    Kol Nidre - sound aspects SAS 031
    Composition No. 165 NAO050
    Seven Compositions (Trio) 1989 - hat Art CD 6025
    Eight (+3) Tristano Compositions 1989 - hat Art 6052
    Eugene (1989) - Black Saint 120137

    Album thực hiện trong vai trò là thành viên ban nhạc:

    Muhal Richard Abrams

    Levels and Degrees of Light - Delmark DD 413 -

    1-OQA+19 - Black Saint BSR 0017

    Marion Brown
    Afternoon of a Georgia Faun - ECM 1004

    Circle
    Paris Concert - ECM 1018/1019
    Company ( Derek Bailey)
    Company 5 - Incus LP28
    Globe Unity Orchestra
    Pearls - FMP 0380

    Gunter Hampel
    The 8th July 1969 - Birth 001
    Familie - Birth 008
    Enfant Terrible - Birth 0025

    Dave Holland
    Conference of the Birds - ECM 1027

    Roscoe Mitchell
    Roscoe Mitchell - Chief CD 4
    Sketches from Bamboo - Moers Music 02024

    Leo Smith
    Budding of a Rose - Moers 02026

    Richard Teitelbaum
    Concerto Grosso (1985) - hat Art CD 6004

    Tú Trúc tổng hợp
    (Theo GiaiDieuXanh)
     

    Attached Files:

  8. ThanhDuong

    ThanhDuong Advanced Member

    Joined:
    21/12/05
    Messages:
    50
    Likes Received:
    6
    Jazz đương đại lên ngôi

    Nói đến nhạc jazz, trước nhất phải nhắc đến làng jazz ở Mỹ. Và điểm son đánh dấu jazz Mỹ năm 2005 là sự khẳng định của dòng jazz bảo thủ, lịch thiệp và dễ cảm nhận.

    Bằng chứng là hai album đứng đầu bảng xếp hạng các đĩa nhạc jazz bán chạy nhất trong năm. Đó là It’s time của nam danh ca trẻ tuổi Michael Bublé, người Vancouver, Canada (cover lại theo phong cách jazz tuyệt tác Can’t buy me love của The Beatles), và album At last… the duets album của ngôi sao kèn saxo Kenny G. Album của anh đã ngự trị trên đỉnh cao Top album jazz đương đại, mang về cho anh danh hiệu Nghệ sĩ jazz đương đại số một trong năm.

    Thực tế jazz dễ nghe chiếm lĩnh trái tim giới thưởng thức còn được đánh dấu bởi sự tiếp tục "đắt hàng" của 3 album "best-selling" năm 2004. Đó là The girl in the other room của Diana Krall (nay cũng có album nhạc Giáng sinh theo phong cách jazz là Christmas songs), When I fall in love của Chris Botti và Only you của Harry Connick Jr. Nhưng jazz kinh điển vẫn tồn tại vững vàng với một số album tập hợp những ghi âm từ cách nay 40 năm hoặc 60 năm nhưng nay vẫn bán rất chạy. Có thể kể đến Town Hall, New York City của Dizzy Gillespie và Charlie “Bird” Parker (ghi âm ngày 22/6/1945); One down, one up: live at the half note (1965) của John Coltrane và tuyệt tác At Carnegie Hall (1957) của Thelonious Monk Quartet. Bản nhạc này đã được đề cử Grammy 2006.

    Trong khi đó các album jazz thử nghiệm, Same mother của Jason Moran và Radiance của Keith Jarrett không khác gì những ngôi sao xẹt ngang bầu trời rồi tắt lịm. Còn những tài năng trẻ, như Amos Lee với biệt danh “Norah Jones nam” và album mang họ tên mình, thì chưa thực sự khẳng định được vị trí trong trái tim người thích nhạc jazz.

    Công chúa jazz hát nhạc Giáng sinh
    Nổi lên trước tài năng trẻ da đen người Mỹ, Alicia Keys, “công chúa Jazz” người Canada, Diana Krall nay chuyển hướng hát nhạc Giáng sinh. Nhưng không ngờ, Christmas songs của nữ nghệ tài hoa từng nhiều lần đoạt giải Grammy này lại là album nhạc Noel đáng nghe nhất mùa cuối năm 2005.

    "Chẳng qua là tìm vài tiếng vui vẻ", Diana Krall tâm sự khi giải thích căn nguyên ra đời của album Christmas songs. “Tôi không hề có ý định thực hiện một đĩa nhạc quá trau chuốt vào mùa nghỉ lễ cuối năm nên đã trang hoàng cây thông Noel, dựng nó trong phòng thu âm ở Los Angeles, thắp đèn cầy lên và rồi mời dàn nhạc Clayton-Hamilton đến,” Diana Krall kể.

    Nhưng không ngờ khi muốn được trở thành “cô gái ham vui” như tựa một ca khúc trứ danh, Girl just want to have fun, của danh ca đàn chị người Mỹ ,Cindy Lauper, Christmas songs lại được giới phê bình dành cho nhiều lời khen. AP viết, “album thuộc tốp các đĩa nhạc Giáng sinh sáng giá gồm nhiều nghệ sĩ tài hoa, như Anita Baker (một nữ hoàng của dòng nhạc soul/R&B) và Brian Wilson (cựu trụ cột trụ tài ba nhất của nhóm The Beach Boys)”.

    Không giống một số nghệ sĩ tự chuốc khó khăn khi thực hiện album theo chủ đề Giáng sinh bằng cách tìm những bài thật lạ hoặc cố sáng tác ca khúc Noel mới, Diana Krall, quê ở thành phố Vancouver, chỉ tìm đến các ca khúc Noel đã cũ. Cô hát cùng với các nhạc công tài hoa của dàn nhạc jazz Clayton-Hamilton. Người nghe hoàn toàn hòa cùng nhịp năm mới với Santa Claus is coming to town, White Christmas, Have yourself a little Christmas, Winter wonderland, Let it snow…

    Diana Krall tâm sự, "đối với tôi, Giáng sinh có nghĩa là trở về nhà, trở về tổ ấm thân thương của mình vì trong năm nay cũng như trong các năm trước, tôi đã bôn ba qua quá nhiều điểm xa lạ để biểu diễn”. Cô còn tiết lộ, album này như một quà tặng gửi đến cho bà, mẹ và Rosemary Clooney, "những người đã dạy cho tôi biết thế nào là hạnh phúc Giáng sinh".

    Trong đĩa Giáng sinh của Diana Krall chỉ có hai bài ít được biết đến là What are you doing New Year's Eve, một tình ca lãng mạn và Count your blessings instead of sheep, một ca khúc “khích lệ tinh thần” mà Diana Krall dành nghe trong những lúc khó khăn, buồn bã.

    (Theo SGTT)
     
  9. ThanhDuong

    ThanhDuong Advanced Member

    Joined:
    21/12/05
    Messages:
    50
    Likes Received:
    6
    Elmo Hope - nghệ sĩ piano bị lãng quên


    Elmo Hope dường như là một nghệ sĩ piano bị bỏ quên trong kỷ nguyên bebop. Sự nghiệp âm nhạc không mấy thành công của ông phần nào phản ánh hiện thực nhạc jazz Mỹ thập niên 50. Cuộc đời và sự nghiệp của người nghệ sĩ tài hoa không được ghi chép lại, thậm chí có lúc Hope còn bị cấm biểu diễn ở West Coast hay những quán bar tại New York.

    Mãi về sau này, người ta mới đánh giá lại ''công trạng'' của Elmo Hope và xem ông là nghệ sĩ piano bebop bậc thầy - người tạo nhiều ấn tượng độc đáo trong nhạc jazz thập niên 50. Thật bất hạnh, ngay lúc bebop đang phát triển và đạt đỉnh cao, nhiều triển vọng mới mở ra cho sự nghiệp của Elmo thì tên tuổi của ông hầu như không được nhắc tới. Bấy giờ, cũng chẳng ai nhớ đến những tác phẩm do ông trình diễn.

    Tiểu sử Elmo chỉ là vài dòng ngắn ngủi giới thiệu trên đầu album hay những mẩu tin nhỏ đâu đó. Ông chỉ có một cuộc trả lời phỏng vấn duy nhất với tạp chí Down Beat năm 1961, với nhan đề gây chú ý nhưng là về cuộc đời đắng cay. Ở thời điểm này, Hope bị cấm biểu diễn ở những hộp đêm của thành phố hoa lệ New York vì có ''liên quan đến chất gây nghiện''. Những nơi ''không lành mạnh'', tập trung các tầng lớp ''dưới đáy'' dường như luôn ràng buộc số phận ông. Trong khi những người bạn của Elmo như Bud Powell đã tạo đựơc tên tuổi trên đại lộ 52, thì Hope chỉ biểu diễn ở các sàn nhảy Greenwich Village và Coney Island. Nhiều đồng nghiệp của ông đã tổ chức được các chương trình nhạc bebop với khối lượng khán giả lớn, thì Hope lại long đong trên đường lưu diễn tới những miền quê hẻo lánh cùng các ban nhạc blues. Và hầu hết, các nghệ sĩ đều có xu thế hướng về New York, xây dựng và tạo lập tên tuổi thì Hope vẫn mắc kẹt và sống chuỗi ngày nhàm chán tại West Coast.

    Tại sao Hope lại ''dậm chân tại chỗ'' trong làng nhạc jazz những năm 40 luôn luôn là điều mà tới hiện tại, người ta vẫn bàn tán. Kỹ thuật biểu diễn của ông rất hoàn hảo so với những nghệ sĩ piano cùng thời và phong cách thể hiện cũng khá tinh tế, các sáng tác và việc dàn dựng cũng chẳng kém cạnh gì và cuối cùng, tài năng của Hope là điều không thể phủ nhận.

    Vào thập niên 50, thế giới nhạc jazz đã thay đổi, phong cách của ông không còn thích hợp với những nhu cầu mới. Một số nhạc công đàn phím đương thời đã kết hợp lại với nhau như Richie Powell với Clifford Brown, Walter Bishop với Parker, sau này là Red Garland và Miles Davis; những nghệ sĩ khác như Al Haig và Mal Waldron cuối cùng cũng tìm được một chỗ đứng trong lịch sử nhạc jazz.

    Song điều này không xảy ra với Elmo Hope, ông chẳng bao giờ có thể đứng vào hàng ngũ của một ngôi sao thực thụ khi nhìn vào cuộc hành trình đầy sóng gió trong âm nhạc, từ phút khởi đầu cho đến khi kết thúc, cũng như sự ra đi thầm lặng về thế giới bên kia của ông khi chớm tuổi 40.

    Người vợ của Hope (cũng là nghệ sĩ piano Bertha) đã gìn giữ tên tuổi của ông trong công chúng. Bà tổ chức các tour lưu diễn và thành lập ban nhạc lấy tên là ELMOllenium. Thời đại kỹ thuật số tạo điều kiện cho việc phát hành lại một vài thu âm hiếm hoi của ông. Ông được coi là ''nguồn tư liệu cực kỳ quý hiếm'' cho những ai muốn nghiên cứu lịch sử nhạc jazz.

    Cuộc đời
    Chuyện kể về cuộc đời của Hope bắt đầu ở New York vào năm 1923, khi Hope được làm lễ rửa tội tại thánh đường Elmo, thần hộ mệnh của các thủy thủ. Ông bắt đầu học piano từ năm bảy tuổi. Hope tập trung vào lĩnh vực nhạc cổ điển và tham gia những cuộc đua tài với nhiều tên tuổi thành công tại địa phương bấy giờ.

    Trong thời gian làm việc ở sàn nhảy và những câu lạc bộ xa trung tâm nhạc jazz của New York là đại lộ số 52, Hope gặp gỡ và cộng tác cùng nghệ sĩ kèn Joe Morris rồi thu âm với nhóm của Morris vào năm 1948. Tuy nhiên, thể loại nhạc R&B mà nhóm theo đuổi không hấp dẫn Hope. Ông theo đuổi các chuyến lưu diễn với Etta Jones nhưng chỉ kéo dài đến tháng 6/1953.

    Dường như vào thời kỳ này, Hope đã tạo ra một chỗ đứng trong làng nhạc jazz. Ông bận rộn cho công việc thu âm và biểu diễn. Album tam tấu Meditations xuất hiện vào năm 1955, tiếp theo là những nhạc phẩm khác như Hope Meets Foster và Informal Jazz. Năm 1957 ông thực hiện chuyến lưu diễn cùng Chet Baker và định cư ở Los Angeles.

    Tại West Coast, Hope gặp và kết hôn với Bertha, ông xoay xở, vất vả tìm việc làm. Ông thu âm cùng Land, cho ra đời album The Fox và một số tư liệu khác. Hai album solo đầu tiên cũng ra đời là Elmo Hope Trio và So Nice. Hope trở lại New York vào năm 1961, đồng thời gặp lại Orrin Keepnews, lãnh đạo hãng Reverside mấy năm trước. Kết quả là sự ra đời của album Homecoming! với sự hợp tác của nghệ sĩ kèn Blue Mitchell. Một lần nữa thu âm này không gặp may và hầu như chẳng có mấy lời tán thưởng. Sự nghiệp của Elmo Hope bị tàn lụi dần vì tình trạng sức khỏe. Năm 196,7 ông nhập viện và qua đời vì chứng suy tim.

    Cuộc đời của Hope chứa đầy những câu hỏi thú vị về sự nghiệp một nghệ sĩ nhạc jazz, nhưng chỉ nằm trong khoảng thời gian từ thập niên 40 đến thập niên 50 trong lịch sử nhạc jazz Mỹ. Chúng ta có thể bắt đầu những gì về Hope từ kỷ nguyên bebop? Có phải ông là người ngoài cuộc trong lĩnh vực này, đơn giản là vì ông không đủ tài năng để đáp ứng những yêu cầu của nó? Còn bao nhiêu tranh cãi về phong cách của một nghệ sĩ piano bebop khiến ông bị lãng quên? Ai sẽ là người trả lời câu hỏi ấy trước khi quá muộn?

    Diệu Lê tổng hợp
    (Theo GiaiDieuXanh)
     

    Attached Files:

  10. ThanhDuong

    ThanhDuong Advanced Member

    Joined:
    21/12/05
    Messages:
    50
    Likes Received:
    6
    Tìm hiểu nhạc jazz


    Người ta thường nói rằng: “Có nhiều kiểu nhạc jazz khác nhau bởi lúc thì nghe giống nhạc cổ điển châu Âu, khi thì lại giống nhạc country, lúc lại như nhạc Latin hoặc nhạc rock. Có khi nó lại mang âm hưởng của rất nhiều thể loại nhạc được chơi ở nhiều nơi trên thế giới”...

    Tuy nhiên, theo nhận định của một nhà nghiên cứu về nhạc jazz - tiến sỹ Bill Taylor, một nghệ sỹ nổi tiếng, nhà nghiên cứu nhạc jazz và là cố vấn nghệ thuật của Trung tâm Kennedy thì: “Jazz là âm nhạc cổ điển Mỹ. Đây chính là cách người Mỹ chơi nhạc”.

    Nhạc jazz là một thể loại nghệ thuật của người Mỹ có nguồn gốc từ châu Phi, được sản sinh từ cộng đồng những người nô lệ da đen châu Phi bị bắt và đem bán sang châu Mỹ từ những thế kỷ trước. Nhạc jazz là phương tiện biểu hiện và diễn đạt mọi tâm tư tình cảm của cộng đồng người da đen sống trên đất Mỹ, đây cũng chính là sản phẩm trực tiếp của di sản âm nhạc Mỹ gốc Phi.

    Nói đến nhạc jazz, chúng ta không thể không nhắc tới nhạc blues bởi nhạc blues là nền tảng của ngôn ngữ nhạc jazz với sự phân tiết và ngữ điệu, nó cũng có xuất xứ từ cộng đồng người da đen. Phong cách thể hiện nhạc blues và jazz có chung một cội nguồn từ những bài ca tôn giáo, những bản hợp xướng của đạo Tin Lành. Ngoài ra, ragtime cũng được xem là một trong những dạng thức đầu tiên của nhạc jazz với những đặc trưng về đảo phách, ứng tác, ứng tấu và sử dụng nhiều tiết tấu đan tréo nhau...

    Cùng với sự pha trộn nhiều phong cách khác nhau của các dòng nhạc blues, country, ragtime... Trong suốt hơn 90 năm qua, nhạc jazz luôn là một thể loại nhạc có ảnh hưởng lớn đến âm nhạc thế giới, đặc biệt vào những năm 1920-1930 của thế kỷ trước, thời kỳ được xem là kỷ nguyên của nhạc jazz.

    Trong ban nhạc jazz, mỗi nhạc công là một phong cách thể hiện riêng, có bao nhiêu nhạc công là có bấy nhiêu phong cách chơi jazz. Một yếu tố quan trọng của nhạc jazz là “swing”, có nghĩa là “ứng tác - ứng tấu ngẫu nhiên”. Nó tạo nên yếu tố thứ hai của nhạc jazz trong phong cách thể hiện. Đặc biệt, không thể giải thích cặn kẽ về “swing” mà chỉ có thể cảm nhận được nó, điều này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thể hiện của nhạc công, tài nghệ “ứng tác - ứng tấu ngẫu nhiên” của mỗi nhạc công được xem như một cuộc “hội thoại”, bên đối bên đáp, phối hợp nhịp nhàng ăn ý, tạo nên những bất ngờ và đầy thú vị cho người nghe.

    Những tên tuổi luôn gắn liền với dòng nhạc jazz trong suốt bao nhiêu năm qua kể từ khi ra đời cho đến nay đó là: Luis Amstrong (nghệ sỹ kèn trumpet); King Oliver (chỉ huy dàn nhạc); Duke Ellington (nghệ sỹ piano); Jemes Rushing (ca sĩ); Enla Fitgerald (ca sĩ); B.B. King (nghệ sỹ guitar), Laura Fygy (ca sĩ)...

    Trong nhạc jazz, phong cách thể hiện của từng nghệ sỹ không phụ thuộc vào bài vở, thành phần dàn nhạc, nhìn chung, sự “phóng khoáng trong khuôn khổ”, tính hài hước và sự điêu luyện của mỗi nghệ sĩ sẽ giúp họ thể hiện thành công các bản nhạc jazz.

    Như quí vị đã thấy, thông thường, thành phần dàn nhạc của dòng nhạc jazz thường ít hơn dàn nhạc giao hưởng, nhưng có khi lại nhiều hơn nhóm nhạc rock. Những nhạc cụ chơi trong nhạc jazz thường là những nhạc cụ của châu Âu nhưng cách diễn tấu lại mang phong cách Mỹ. Sự sắp xếp trong dàn nhạc jazz thường theo các nhóm:

    Nhóm Kèn: gồm các loại kèn trumpet, cornet, trombone, saxophone, clarinette.

    Nhóm Gõ: gồm bộ trống và các nhạc cụ gõ.

    Ngoài ra còn có các loại nhạc cụ khác như piano; banjo; guitar; contrebass...

    Nhạc jazz không chỉ thành công và thu hút người nghe trong lãnh vực của mình, từ những năm 1920-1930, đã xuất hiện jazz-symphonic (jazz-giao hưởng) mà tiêu biểu là nhạc sĩ Mỹ G.Gershwin; Ivling Berlin; Robert Bermann đã tạo nên những hiệu quả bất ngờ, mở ra một phong cách mới trong thể hiện của dàn nhạc giao hưởng.

    Nhạc jazz là một thứ ngôn ngữ không theo những khuôn mẫu chuẩn mực của âm nhạc cổ điển. Nghệ thuật nhạc jazz là một loại nghệ thuật sống động, không thể giải thích bằng lời, không thể phân tích theo kiểu phân tích tác phẩm của dòng nhạc cổ điển. Những nhạc công chơi nhạc blues và jazz thường là những người có năng khiếu bẩm sinh về dòng nhạc này, đặc biệt là các nhạc sỹ da đen vùng Bắc Mỹ. Hiện nay, hầu hết ở các nước trên thế giới đều có “Hội nghiên cứu nhạc jazz”, thậm chí nó đã trở thành một môn học chính thức, một khoa đào tạo chính qui trong nhiều trường dạy nhạc chuyên nghiệp, đặc biệt ở châu Âu, nó như một sự kết hợp tinh tế giữa các dòng nhạc từ thuở sơ khai đến ngày nay.

    Trong nhạc jazz, khái niệm về sáng tác luôn gắn liền với người thể hiện, nó gần như là sự sáng tạo tại chỗ. Một giai điệu, một nét nhạc có thể bị lãng quên ngay sau khi người nhạc công đã trình tấu nó. Tuy nhiên ngày nay, các nghệ sĩ chơi nhạc jazz thường có những sự “thể nghiệm” độc đáo nhằm liên kết giữa các dòng nhạc, phá bỏ những quan niệm của những dòng nhạc mang đặc tính riêng như nhạc cổ điển...

    Một đặc điểm nổi bật cần nhấn mạnh là “tính đồng nhất” trong âm nhạc da đen ở Mỹ. Như chúng ta đã biết, trên thế giới có rất nhiều trường phái và thể loại âm nhạc như: cổ điển, lãng mạn, ấn tượng, hiện đại, pop, rock, hòa tấu thính phòng... thì người da đen ở Mỹ không có sự phân biệt ấy. Với họ, chỉ có “chơi” và “hát” nhạc theo phong cách da đen bằng ngôn ngữ blues, jazz và swing theo kiểu truyền khẩu, tạo nên một tổng thể hợp nhất, một đặc trưng nổi bật của nền âm nhạc Mỹ.

    Như đã nói ở trên, sự ra đời của dàn nhạc jazz-symphonic không chỉ là một sự sáng tạo độc đáo, nó còn là một bước ngoặt trong kỹ thuật trình tấu đối với các nhạc công trong dàn nhạc giao hưởng, họ không chỉ điêu luyện trong các tác phẩm âm nhạc cổ điển, lãng mạn và hiện đại mà còn phải nhạy bén thích nghi với phong cách nhạc jazz trong tác phẩm của các nhạc sĩ Mỹ mà tiêu biểu là George Gershwin, Leonard Berstein, Tim Rice...

    Ths. Hoàng Điệp
    (Nguồn GiaiDieuXanh)
     
  11. Aries

    Aries Advanced Member

    Joined:
    2/12/05
    Messages:
    6.514
    Likes Received:
    57
    Location:
    VNAV
    Huyền thoại John Coltrane lại khuấy động thị trường Mỹ

    Cố nghệ sĩ saxophone đã có hai album lọt vào top 3 trên bảng xếp hạng nhạc jazz. Đây là một thành tựu bất ngờ của John Coltrane vào tuần trước, 38 năm sau khi ông qua đời.


    Hai đĩa gồm: "One Down, One Up: Live at the Half Note" đứng vị trí thứ ba ở bảng xếp hạng top album jazz của Billboard vào tuần tính đến hết ngày 16/10 - đang đứng ngôi á quân là album " di Blue Note" phát hành gần đây của tứ tấu Thelonious Monk với Coltrane thực hiện mang tên "At Carnegie Hall".

    Thu âm Half Note tiêu thụ được 3.500 bản (và tiếp tục bán đươc 2.400 trong tuần thứ hai), còn hợp tuyển Carnegie Hall thì bán được 44.000 tính đến thời điểm này. Đĩa nhạc phát hành về sau đã có tới 11 ngày độc chiếm ngôi quán quân trên danh sách các album bán chạy nhất của amazon.com.

    [align=center][​IMG][/align]

    Hai album trên cho tới nay vẫn chưa được phát hành một cách chính thức . Album do Impulse! xuất bản - gồm những bản nhạc Coltrane biểu diễn trực tiếp tại câu lạc bộ Half Note (New York năm 1965) với bộ tứ McCoy Tyner, Jimmy Garrison và Elvin Jones - rất được công chúng hoan nghênh. Đầu thập niên 90, con trai của Coltrane là Ravi đã thu âm thành băng với sự giúp đỡ của DJ Alan Grant. Cuốn băng này là nguồn quan trọng cho ấn phẩm CD hiện tại.

    Album Monk/Coltrane Carnegie Hall - là một trong số ít tư liệu đánh dấu sự hợp tác giữa hai huyền thoại nhạc jazz - chưa từng được phát hành trước đây. Cuốn băng " A Voice of America" ghi lại buổi hoà nhạc 1957 bị thất lạc lâu nay đã được tìm thấy ở thư viện Quốc hội (hiện nằm trong tay nhà nghiên cứu Larry Appelbaum).

    Huyền thoại
    Những tư liệu chất lượng cao chưa từng được phát hành của Coltrane, người đã qua đời vì bệnh ung thư vào tháng 7/1967, đã dần dần được phát hiện trong thời gian gần đây.

    Thu âm live kiệt tác "A Love Supreme" cuối cùng đã được Impulse! phát hành chính thức vào năm 2002. Tháng 7, Columbia/Legacy trình làng thu âm năm 1956 giữa tứ tấu của Miles Davis và Coltrane - một phần trong hai CD đầu tiên của Miles làm cho Columbia mang tên "Round About Midnight".

    Nhưng sự trình làng gần như đồng thời của Half Note và Carnegie Hall đã tạo ra một sự kiện Coltrane. "Âm nhạc của nó thật tuyệt vời", Tom Evered, phó chủ tịch kiêm tổng giám đốc EMI Jazz và Classics, công ty mẹ của Blue Note nhận xét.

    Còn theo Ken Druker, phó chủ tịch phụ trách phát triển của Impulse!: "Người ta đã tìm thấy ấn tượng sâu sắc trong Carnegie Hall. Hơn thế nữa, tôi nghĩ đó là một huyền thoại. Cái tên của Coltrane đã tạo ra sức hút ma thuật ấy. Bên cạnh cái tên ma thuật còn là một phong cách chơi nhạc cũng đầy ma thuật".

    Album năm 1964 của Coltrane "A Love Supreme" được xem là một trong những album vĩ đại nhất trong lịch sử âm nhạc.
    Tuy nhiên, khi xuất hiện ở bảng xếp hạng nhạc jazz đương thời (lãnh địa vốn thuộc về các giọng ca như Michael Buble, Madeleine Peyroux, Paul Anka, Diana Krall và Harry Connick Jr.) thì thành công của Coltrane là điều không thể hình dung nổi.

    Ashley Kahn người chú giải album, và là tác giả của cuốn sách "A Love Supreme" mô tả: "Nó có tầm ảnh hưởng rất lớn, đó là thứ âm thanh tiên phong, cảm xúc mạnh mẽ".

    Sự mến mộ âm nhạc của Coltrane gần đây vẫn tiếp tục lan toả. Gia đình của nghệ sĩ này đã lần lượt đưa những tư liệu chưa từng phát hành trước đây. Kahn nói: "Có những cuốn băng mà thậm chí cả hãng thu âm cũng không biết về nó. Chúng mang giá trị hơn cả một sản phẩm nghệ thuật".

    John Coltrane qua đời ở tuổi 40. Hàng chục năm trôi qua, hình ảnh của ông với giới nghệ sĩ và người hâm mộ không hề phai nhạt mà càng ngày càng sâu đậm hơn, lớn lao hơn. Ngôi sao tiên phong chơi saxophone trở thành một huyền thoại nhạc jazz, sánh vai cùng Louis Armstrong hay Charlie Parker. Là một nhạc công, ít ai bì kịp với Coltrane về phong cách và kỹ thuật biểu diễn. Ông cũng rất thành danh trong lĩnh vực sáng tác tuy rằng những tác phẩm của Coltrane không được đánh giá đúng với tầm vóc của nó. Dù thế nào, người ta cũng không thể phủ nhận công trạng "mở đường" của Coltrane trong việc đưa vào cùng một tác phẩm rất nhiều thể loại âm nhạc như blues, ballads, spirituals, rhapsodies, elegies, suites...

    Nghệ sĩ saxophone John Coltrane lại là một trong những biểu tượng quan trọng nhất, ấn tượng nhất của dòng nhạc jazz. Một may mắn khiến tên tuổi của Coltrane còn nổi hơn nhiều sau khi ông qua đời là các công ty băng đĩa thường xuyên tái bản những nhạc phẩm của ông dưới cái tên chính thức: John Coltrane.

    Tháng 7/1967, Coltrane mất vì bệnh ung thư. Ông để lại rất nhiều nhạc phẩm chưa kịp phát hành như "Live" at the Village Vanguard!, Om, Cosmic Music, Selflessness, Transition, Sun Ship, Afica/Brass, Vol. 2, Interstellar và First Meditations. Tất cả những sáng tác này sau đó được Impulse! xuất bản và "một chuỗi" những đề cử Grammy liên tiếp đến với Coltrane như: Nghệ sĩ jazz xuất sắc nhất; Nhóm nhạc jazz hay nhất... Năm 1981, với "Bye Bye Blackbird", ông giành hai giải Grammy dành cho nghệ sĩ nhạc jazz xuất sắc, nghệ sĩ độc tấu xuất sắc. 25 năm sau khi ông qua đời, năm 1992, công chúng hâm mộ lại một lần nữa nhắc tới tên ông, tìm kiếm những album của ông khi giải Grammy Lifetime Achievement được trao cho John Coltrane - tiếng saxophone quyến rũ.

    (TT tổng hợp - Giadieuxanh.net )
     

Share This Page

Loading...