Các pác làm ơn cho em biết cách tính công suất âmly dùng cho hội trường thì có công thức gì không? Ví dụ: Em dùng 2 loa công suất RMS 550 W trở kháng 8 ohm độ nhậy 103dB cho phòng hội trường diện tích 240m (24mx10m) thì cần âm ly có công suất khoảng bao nhiêu là đủ (Các pác cho em tài liệu tham khảo được thì tốt quá) Em mong nhận được sự kíu giúp từ các pác nhiều.
Đối với hội trường lớn thì nên dùng nhiều loa đặt rải rác nếu chỉ có 2 loa thì những người ngồi xa nghe tiếng nhỏ mà người ngồi gần loa thì điếc tai bác ạ.
Trời ơi bác đừng có dỗi thế chứ, tại em thấy Topic này ít người vô nên mới phải kêu các MOD phòng xa thôi mừ có gì mà dỗi chứ. Vấn đề loa rải rác thì em đã có rùi 10 cái mỗi vế 5 cái công suất RMS 100W. Cái chính là em muốn hỏi có công thức nào tính toán công suất âm ly cho phù hợp với cặp loa to kia không thôi, hay cứ chọn mua đại 1 cái âm ly có công suất > công suất RMS của loa là được.
Loa của bác độ nhạy đến 103 dB thì không cần công suất lớn đâu. Dùng ampli nào cũng được hết. chỉ cần 1w công suất là loa của bác đã cho ra 103dB ở cách loa 1m. 103dB là gần điếc tai rồi bác ạ.
Phía dưới là độ ồn tính theo Decibel lấy từ link sau : http://www.lhh.org/noise/decibel.htm Home 50 refrigerator 50 - 60 electric toothbrush 50 - 75 washing machine 50 - 75 air conditioner 50 - 80 electric shaver 55 coffee percolator 55 - 70 dishwasher 60 sewing machine 60 - 85 vacuum cleaner 60 - 95 hair dryer 65 - 80 alarm clock 70 TV audio 70 - 80 coffee grinder 70 - 95 garbage disposal 75 - 85 flush toilet 80 pop-up toaster 80 doorbell 80 ringing telephone 80 whistling kettle 80 - 90 food mixer or processor 80 - 90 blender 80 - 95 garbage disposal 110 baby crying 110 squeaky toy held close to the ear 135 noisy squeeze toys Work 40 quiet office, library 50 large office 65 - 95 power lawn mower 80 manual machine, tools 85 handsaw 90 tractor 90 - 115 subway 95 electric drill 100 factory machinery 100 woodworking class 105 snow blower 110 power saw 110 leafblower 120 chain saw, hammer on nail 120 pneumatic drills, heavy machine 120 jet plane (at ramp) 120 ambulance siren 125 chain saw 130 jackhammer, power drill 130 air raid 130 percussion section at symphony 140 airplane taking off 150 jet engine taking off 150 artillery fire at 500 feet 180 rocket launching from pad Recreation 40 quiet residential area 70 freeway traffic 85 heavy traffic, noisy restaurant 90 truck, shouted conversation 95 - 110 motorcycle 100 snowmobile 100 school dance, boom box 110 disco 110 busy video arcade 110 symphony concert 110 car horn 110 -120 rock concert 112 personal cassette player on high 117 football game (stadium) 120 band concert 125 auto stereo (factory installed) 130 stock car races 143 bicycle horn 150 firecracker 156 capgun 157 balloon pop 162 fireworks (at 3 feet) 163 rifle 166 handgun 170 shotgun Với hội trường thì 110Db cũng là độ ồn tối đa cần có. Vậy làm phép tính từ loa của bác là 103Db với amply có công xuất 1 watt. Do đó với - Amply công xuất 2 watt => 106Db - Amply công xuất 4 watt => 109Db - Amply công xuất 8 watt => 112Db Suy ra bác chỉ cần amply với công xuất 8 watts là ổn.
Trời các pác tính toán thế này thì dự án của em đổ bể rùi, chẳng hiểu mấy cha phòng Kỹ thuật chỗ em tính toán kiểu gì mà lại bảo mua âm ly công suất 1800W RMS chạy 2 khối xử lý động DMP để đánh cho 2 loa 550W , mua 2 âm ly 350W để đánh 10 loa công suất 100W, sau đó đấu tất vào bộ mixer 24 đường ??? Đây là hệ thống trang âm cho hội trường có 240m(24x10m) Em pó tay
Vấn đề là sắm cho cơ quan hay cá nhân? Nếu cơ quan, đặc biệt là Nhà Nước, thì cứ tẹt ga, càng càng đắt càng tốt, tốt nhất là ra Hàng Bài sắm mấy bộ TOA (đểu), PEAVEY (đểu)... với giá TOA xịn. Cái trò mua đồ cho cơ quan thì em biết rõ lắm! Còn mua đồ âm thanh hội trường loại khá thì bác ra 44 Trần Hưng Đạo, bán đồ TOA, YAMAHA, đèn đóm máy khói đủ cả! Vơi cái hộ trường như thế thì cứ sắm bừa 1 bộ về, oánh lên nếu thiếu thì mua tiếp loa + công suất nữa !
Đây là tính toán cho sân khấu biểu diễn ngoài trời, rồi mang vào hội trường.:cry: Hệ thống trên mà được áp dụng, đảm bảo 90% đại biểu cty bác đi họp bị ù tai, chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn, mất ngủ... :lol:
Bác ơi, còn phải tùy nhu cầu nghe ở hội trường cty bán nữa chứ. Hội trường có nhiều kiểu lắm, có sân khấu không, và có chơi văn nghệ ở đây không nữa? Âm thanh thì phải đúng nhu cầu sử dụng mới phát huy được chất lượng, nếu bác dùng dàn to quá mà chỉ để nói chuyện thôi thì người nghe phải về sớm vì tiếng nói thì nghe không rõ mà tiếng xì, ồn thì nhiều... nếu dàn dạng compact nhỏ tốt cho việc nói chuyện nhưng văn nghệ thì không thể đàn hát gì được. Nếu ngân quỹ cho phép và yêu cầu thì đủ thứ như trên, bác nên sắm dàn to dư cs đẻ sẵn sàng cho văn nghệ nếu cần, và chỉ cần mua thêm một cặp loa full nhỏ thôi (loại có chân dựng hoặc monitor sân khấu) để dùng khi họp hành, nói chuyện. Toàn bộ main va các thứ khác dùng chung được. Chúc bác vui khỏe
Cám ơn ý kiến chỉ bảo của các bác, đúng là hội trường cơ quan em có sân khấu (bé thôi) kết hợp cả ca nhac quần chúng khi cần. Nhưng cái chính ý em muốn hỏi là với diên tích hội trường như vậy thì có công thức gì tính toàn về mặt âm học để suy ra công suất loa, âmly cho phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng thôi. Ngân sách thì khá thoải mái khoảng 400 triệu đồng
Đùa bác tí cho vui: công thức trên chỉ có bác Sabine biết thôi. Vậy bác trích 35.000đ trong số 400 triệu đó, ra chỗ trường ĐH Kiến trúc mua cuốn " Âm học Kiến trúc" - bản dịch ra tiếng Việt , về nghiên cứu là ra hết. Bản trích lược dưới đây của Tuananhmaungo, hy vọng cung cấp cho bác một vài khái niệm ban đầu. ===================== ÂM HỌC KIẾN TRÚC LỜI NÓI ĐẦU Âm thanh là một hiện tượng tự nhiên, quen thuộc và gần gũi không chỉ đối với con người mà còn với phần lớn các loài động vật. Gần đây nhất các nhà sinh học còn phát hiện rằng cả thực vật cũng biết “nghe” âm thanh. Song chỉ có con người mới biết cảm thụ, thưởng thức âm thanh để làm phong phú và tô đẹp thêm cuộc sống của mình, nhưng có lẽ cũng chính vì vậy mà con người lại bị âm thanh quấy nhiễu, hành hạ thậm chí gây bệnh. Trong các phòng thính-khán giả như các nhà hát,phòng hoà nhạc,rạp chiếu phim v..v.. thì điều kiện tiện nghi âm thanh là điều kiện tốt nhất để thu nhận tiếng nói, cảm thụ và thưởng thức tiếng hát,âm nhạc. Lĩnh vực nghiên cứu này được gọi là ÂM HỌC PHÒNG hay còn gọi là ÂM HỌC KIẾN TRÚC… Trên Thế Giới, âm học kiến trúc đã có quá trình phát triển gần 1 thế kỉ nay, nhưng ở nước ta chỉ mới được quan tâm thực sự chỉ vài chục năm gần đây và các nghiên cứu trong lĩnh vực này chưa có nhiều… Tác giả PGS.TS Phạm Đức Nguyên TRUYỀN ÂM TRONG PHÒNG KÍN: Khi âm thanh lan truyền trong phòng kín tới gặp 1 bề mặt kết cấu thì sẽ xảy ra các hiện tượng(hình 1): Sự phản xạ và hút âm của các kết cấu trong phòng - Một phần năng lượng âm sẽ phản xạ trở lại vào phòng. - Một phần năng lượng âm sẽ truyền qua kết cấu sang phòng bên cạnh. - Một phần bị tiêu tán trong vật liệu kết cấu. Khi nghiên cứu âm học các phòng chúng ta chỉ quan tâm phần năng lượng âm phản xạ trở lại và năng lượng âm bị mất đi. Do đó phần năng lượng âm tiêu tán và phần truyền qua được gọi chung là năng lượng âm bị hút. Ta có: It=I¬p + Ih Trong đó: I¬t – cường độ âm tới mặt kết cấu. Ip _ cường độ âm phản xạ, Ih _ cường độ âm bị hút. Để đặc trưng cho tính chất hút âm của vật liệu, người ta dùng hệ số hút âm, kí hiệu là , với: = Ih It Tính chất phản xạ âm thanh của các vật liệu được đặc trưng bằng hệ số phản xạ âm, kí hiệu là , với: = Ip It Do đó + = 1 Tất cả các vật liệu đều hút âm, chỉ có ít hoặc nhiều. Hút âm là sự chuyển đổi năng lượng âm thành các năng lượng khác như nhiệt năng, cơ năng… Nói chung các vật liệu càng rắn, đặc, nhẵn càng ít hút âm, hệ số hút âm xấp xỉ không. Ngược lại chúng ta có thể tạo được các vật liệu hút âm xấp xỉ đơn vị. Mặt khác, khả năng hút âm của vật liệu thay đổi rất nhiều theo tần số âm thanh và thường được biểu diễn dưới dạng một đường đặc tính tần số hút âm (hình 2),nó cho biết khả năng hút âm của vật liệu mạnh ở vùng nào, giúp chúng ta sử dụng chúng một cách hợp lý. Đặc tính tần số hút âm của một vật liệu Khả năng hút âm của một bề mặt có diện tích S (hệ số hút âm là ) được đánh giá bằng lượng hút âm tương đươngcủa nó, kí hiệu là A,xác định theo công thức: A= S¬ (đơn vị là m2) Ví dụ: Một bề mặt diện tích S= 100m2 ¬có hệ số hút âm = 0,35 (ở 1 tần số nào đó) sẽ có lượng hút âm tương đương là: A= 100.0,35= 35m2 Nói khác đi,bề mặt khảo sát 100m2 có khả năng hút âm tương đương 1 diện tích hoàn toàn hút âm là 35m2. Để đơn giản người ta gọi tắt là lượng hút âm. Một phòng sẽ có nhiều bề mặt diện tích khác nhau (Si) với hệ số hút âm khác nhau (i). Lượng hút âm của một phòng là lượng hút âm tổng cộng của tất cả các bề mặt và các vật có trong phòng đó,xác định theo công thức : A= Sii + m Nm Trong đó : Nm là số vật hút âm có trong phòng. m lượng hút âm của một vật. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ÂM HỌC PHÒNG Như đã biết,sóng âm là những sóng áp suất,lan truyền từ nguồn âm đến mọi điểm trong phòng - đó là các sóng trực tiếp. Khi âm thanh truyền tới các bề mặt trong phòng, sẽ xảy ra các hiện tượng phản xạ và hút âm : một phần năng lượng âm tới bị vật liệu của bề mặt hút đi, phần còn lại sẽ phản xạ trở lại vào phòng - đó là các sóng phản xạ. Sóng âm lan truyền trong phòng sau 1/60s (a) và sau 1/30s (b) Các sóng phản xạ có thể là bậc 1 (chỉ 1 lần gặp bề mặt), bậc 2 (2 lần gặp bề mặt), bậc 3 (3 lần gặp bề mặt) hoặc bậc cao hơn. Các sóng trực tiếp và sóng phản xạ lan truyền khắp phòng, chồng chéo lên nhau, hòa hợp với nhau tạo thành trường âm trong phòng. Mặt khác, khối không khí bị bao bọc bởi các bề mặt trong phòng,về mặt vật lý là một hệ thống dao động, có thể dao động khi bị kích thích của sóng âm. Đồng thời bản thân nó cũng có những tần số riêng, có thể cộng hưởng dao động ngay cả khi nguồn âm đã tắt. Chính vì vậy người ta đã ví phòng với một hộp đàn vĩ cầm nhưng có kích thước lớn hơn và mức độ phức tạp nhiều hơn do tính đa dạng của các bề mặt phòng. Các hiện tượng vừa nêu làm cho trường âm trong phòng trở nên rất phức tạp và có thể không đồng đều tại các điểm khác nhau trong không gian của phòng và chúng sẽ có ảnh hưởng đến chất lượng cảm thụ âm thanh trong phòng đó. Nội dung nghiên cứu của âm học kiến trúc là tìm hiểu các quá trình âm học xảy ra khi truyền âm trong các phòng, ảnh hưởng của nó đến sự cảm thụ âm thanh, nhờ đó đưa ra được các tiêu chuẩn và phương pháp thiết kế phòng có chất lượng âm thanh cao. Âm học kiến trúc bắt đầu được chú ý từ thế kỉ XIX nhưng mãi đến đầu thế kỉ XX nhờ các nghiên cứu của W.C. Sabine - một giáo sư vật lý người Mỹ – mới đạt được các kết quả định lượng đầu tiên, đánh dấu mở đầu một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của âm học kiến trúc cho tới ngày nay và trở thành một môn khoa học riêng biệt. Để xác định trường âm trong phòng người ta thường sử dụng 3 phương pháp sau đây: - Phương pháp sử dụng lý thuyết sóng,nghiên cứu trường âm theo đúng bản chất sóng của âm thanh,nghĩa là coi phòng như 1 hệ dao động 3 chiều,còn âm thanh là 1 tín hiệu tác động trong 1 dải rộng tần số. Lý thuyết sóng cho phép phân tích một cách nghiêm ngặt các quá trình âm thanh xảy ra trong phòng.Tuy nhiên do phải vận dụng các công cụ toán học phức tạp và mới chỉ đưa ra được các kết luận định tính nên ít được áp dụng trong thực tế. - Phương pháp sử dụng toán học thống kê nghiên cứu trường âm trong các phòng nên còn được gọi là phương pháp lý thuyết thống kê,mà người khởi xướng là giáo sư W.C.Sabine.Mức độ chính xác của các kết cấu nghiên cứu phụ thuộc sự phù hợp giữa các điều kiện âm học thực tế so với các giả thiết. Cho đến nay, suốt gần 1 thế kỉ, lý thuyết thống kê vẫn là chỗ dựa chủ yếu để thiết kế âm thanh các phòng. Phương pháp sử dụng lý thuyết âm hình học, theo đó trường âm trong phòng được hình dung dưới dạng một tổng hợp các tia phản xạ qua lại giữa các bề mặt phòng.Tuy lý thuyết âm hình học đã đơn giản hóa quá trình truyền âm nhưng lại cho phép ta dễ dàng nghiên cứu và hình dung bức tranh trường âm và đặc biệt đã giải thích được nhiều hiện tượng âm học xảy ra trong các phòng, xác định được ảnh hưởng của hình dạng và kích thước các bề mặt đến sự hình thành trường âm… Phương pháp âm hình học có nhiều áp dụng trong thực tế thiết kế và có độ chính xác khá cao ở phạm vi các tần số cao của âm thanh. QUÁ TRÌNH THU NHẬN ÂM THANH TRONG PHÒNG Quá trình này có thể chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: giai đoạn tăng, năng lượng âm tăng dần nhờ được bổ xung thêm các phản xạ, cho âm trực tiếp. - Giai đoạn 2: giai đoạn ổn định, xảy ra do sự cân bằng giữa năng lượng âm do nguồn bức xạ và năng lượng âm bị hút trong phòng. Khi đó nếu giữ cố định công suất nguồn âm thì năng lượng âm trong phòng là 1 trị số ổn định, không thay đổi. - Giai đoạn 3: giai đoạn giảm, xảy ra sau khi tắt nguồn âm. Năng lượng sẽ giảm dần, âm đến trước tắt trước, đến sau tắt sau cho đến khi tắt hẳn. THỜI GIAN ÂM VANG Giai đoạn tăng và ổn định xảy ra khá nhanh chỉ tính bằng phần mười giây, còn giai đoạn giảm xảy ra chậm hơn (có thể tính bằng giây) và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thu nhận âm thanh trong các phòng, cho nên còn được gọi là quá trình âm vang, thời gian âm thanh tắt dần trong quá trình đó là thời gian âm vang. Để đánh giá định lượng quá trình âm vang, người ta đưa vào 1 đại lượng, đặt tên là “thời gian âm vang chuẩn”: Thời gian âm vang chuẩn là thời gian cần thiết để năng lượng âm trong quá trình tắt dần tự do trong phòng giảm được một triệu lần (10-6) so với trị số ban đầu.Tương ứng mức giảm này của năng lượng, mức âm sẽ giảm đi 60dB. Quá trình tắt dần âm thanh trong phòng Vì vậy cũng có thể định nghĩa thời gian âm vang chuẩn là thời gian tắt dần của âm thanh trong phòng để cho mức âm giảm được 60dB. Thời gian âm vang chuẩn được kí hiệu bằng chữ T, đo bằng giây (s). Dùng thời gian âm vang chúng ta có thể đánh giá định lượng quá trình âm vang của 1 phòng là nhanh (T nhỏ) hay chậm (T lớn). XÁC ĐỊNH THỜI GIAN ÂM VANG 1. Công thức Sabine (1902): Theo định nghĩa thời gian âm vang thì t=T khi Eg =10-6 Eo từ công thức E¬¬¬g = Eo e-t ta có : T= 0,16 V A Trong đó: T – tính bằng giây (s) V _ tính theo m3 A _ tính theo m2 Wallace Clement Sabine tìm ra công thức này hoàn toàn bằng thực nghiệm trong những đêm miệt mài trong phòng thực nghiệm từ mùa xuân đến mùa hạ năm 1896, khi thành phố hoàn toàn yên tĩnh(từ nửa đêm tới sáng). Mãi 30 năm sau người ta mới chứng minh được bằng lý thuyết công thức của ông. Chỉ bằng quan hệ đơn giản giữa thể tích và lượng hút âm của phòng, Sabine đã tìm được 1 đại lượng mà cho đến nay vẫn coi là 1 tiêu chuẩn quan trọng nhất của âm học phòng, vì vậy suốt một thế kỉ qua nó đã được áp dụng vào thiết kế âm thanh ở các phòng thính giả và Sabine được coi là người thầy sáng lập môn ÂM HỌC KIẾN TRÚC. Để ghi nhớ công lao của ông người ta đã lấy tên ông để đặt cho lượng hút âm của phòng (đơn vị của A là Sabine hoặc m2). Tuấn Anh trích lược (Còn tiếp…)
Ý em muốn hỏi rằng có đúng là độ nhậy (sensitive) của cặp loa biểu diễn này là 103 db không ?? Cá nhân em thì ko tin rằng cặp loa biểu diễn này lại có độ nhậy cao như thế !!! Và con số 103 db là để chỉ cho một thông số khác !!
Hí hí bác Quạ nói chí phải, loa biểu diễn đời mới thường có độ nhạy khá thấp, 90dB đã là quá nhiều ( trừ khi là loa Vintage thì cao ) em có máy đo nhưng không biết có phải đo như thế này không ? : cho vào ampli tần số 1KHz, đo sao cho công suất ra 1 W, để cái máy đo dB cách loa 1m, thế là đo, khoái lém. Tin sốt dẻo : Nhận đo độ nhạy loa các loại, giá cả 1 chai Pepsi cà phê Dung.
Thường người ta cho vào loa tín hiệu có điện áp 2,83V. Nhưng bác viagraless đo trong môi trường nào chứ?
Chào các Bác! Em có vài ý như này, Bác DucThanh cứ tính cho mỗi người ngồi trong hội trường là 1w, cho âm thanh thuyết trình, khi nào có văn nghệ thì thêm cặp full 15 và cặp monite là ok rồi, âmly dùng riêng hết, với kinh 400 thì không làm gì hết, nếu không tính đến ánh sáng.