Jazz - câu chuyện về toàn cầu hóa

Discussion in 'Âm nhạc' started by Loving, 9/6/08.

  1. Loving

    Loving Advanced Member

    Joined:
    4/12/05
    Messages:
    1.913
    Likes Received:
    24
    Location:
    Cực Chuối Lạc Bang Giáo
    GS Mart Stewart (Khoa lịch sử, ĐH Western Washington) cùng phu nhân - nhà văn, dịch giả Lý Lan - đã đến toà soạn Tia sáng trò chuyện thân mật về vấn đề toàn cầu hóa thông qua một hiện tượng văn hóa thú vị của thế kỉ XX mà ông hết sức say mê: Nhạc Jazz.

    1. Ở Mỹ hiện có rất nhiều kênh radio chuyên phát nhạc Jazz và Jazz đã được đưa vào chương trình giảng dạy của nhiều trường đại học ở Mỹ. Dầu vậy, số lượng người nghe Jazz và say mê Jazz chắc chắn không thể nhiều bằng số lượng người nghe Britney Spears. Theo tôi, đó là điều tất yếu. Nghe Jazz tương đối khó. Trong khi Pop dụ dỗ và "nịnh tai" thì Jazz lại thách thức tâm hồn người nghe. Nhạc pop có tính tiêu khiển mạnh mẽ hơn Jazz rất nhiều trong khi đó Jazz lại có tính hướng thượng. Và tôi cũng nhớ đến một câu chuyện về Chick Corea, một nghệ sĩ da trắng chơi Jazz fusion rất nổi tiếng. Trong những năm 70 của thế kỉ trước, trong một buổi hòa nhạc, khi có người hỏi anh ấy về số phận của Jazz, Chick Corea trả lời đại ý rằng Jazz sẽ trở thành âm nhạc cổ điển của tương lai. Ở thời của mình, chưa chắc đã có nhiều người biết đến Mozart hay Beethoven. Hoặc ít nhất, chắc gì có ai nghĩ rằng họ sẽ trở thành bất tử. Số phận của Jazz cũng sẽ là như thế. Đến một ngày, nó sẽ trở thành kinh điển. Tôi đồng cảm với cái nhìn lạc quan của Chick Corea. Một ngày nào đó, Jazz cũng sẽ trở thành một thứ âm nhạc cổ điển mới của thế kỉ XX bởi lẽ, trong bản chất của thể loại âm nhạc này đã tiềm ẩn tố chất của điều đó và hơn thế nữa, số phận của Jazz chính là một hình mẫu của một tiến trình nổi bật nhất của thế kỉ XX: toàn cầu hóa.

    2. Jazz chính là một sản phẩm của toàn cầu hóa. Tổ tiên xa xưa của Jazz là âm nhạc lao động và âm nhạc tôn giáo - negro spiritual, gospel – của người da đen. Đến đầu thế kỉ XX, cũng chính người da đen là những người đã làm một cuộc pha trộn giữa nhạc blues, ragtime và âm nhạc châu Âu để khai sinh ra Jazz. Có lẽ chính vì nguồn gốc pha trộn và "địa vị" xuất thân như thế nên cho đến giờ, chưa có một lời giải thích thật sự thuyết phục cho cái tên Jazz. Vậy là Jazz chính là sản phẩm của một cuộc gặp gỡ và pha trộn văn hóa trên một vùng đất mới. Toàn cầu hóa là một tiến trình tự nhiên đã diễn ra một cách nổi bật từ mấy trăm năm nay, tuy nhiên, phải đến thế kỉ XX, toàn cầu hóa mới bắt đầu trở thành một vấn đề thời sự nóng bỏng bởi sự gia tốc khủng khiếp của nó nhờ sự hỗ trợ của những phương tiện kĩ thuật hiện đại. Điều này cũng đúng với Jazz. Theo nhiều nhà nghiên cứu về Jazz thì tiến bộ kĩ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình biến Jazz trở thành một thể loại có tính toàn cầu. Chính những nhạc cụ biểu diễn và những phương tiện truyền bá hiện đại đã khiến cho Jazz trở thành một thứ âm nhạc được phổ biến trên toàn thế giới rất nhanh. Với một bức tranh, người ta có thể cảm nhận ở những thời điểm khác nhau. Nhưng với một bản Jazz thời kỳ sơ khai lại khác, nó chỉ là một sản phẩm phù du. Công nghệ ghi âm đã khiến Jazz "bất tử hóa". Tất nhiên nghe Jazz "sống" vẫn là một lạc thú.
    Một nguyên nhân quan trọng khác khiến Jazz trở nên phổ biến là khoảng từ 1930 trở đi, các ban nhạc Jazz bắt đầu đi lưu diễn nhiều nơi. Trên hành trình ấy, Jazz đã vay mượn và thu nhận những yếu tố ngoại lai để làm phong phú chính mình. Chính quá trình thoát khỏi ranh giới tồn tại có tính địa phương tiếp xúc và đối thoại với bên ngoài để làm mới chính mình mới là một hình ảnh điển hình của toàn cầu hóa. Theo con đường ấy, Jazz đã dần chiếm địa vị quan trọng trong đời sống văn hóa ở Mỹ. Trong khoảng 40 năm gần đây, các đại học Mỹ đều có dạy Jazz nhưng nổi tiếng nhất là ở Berkeley nơi đã có người Việt đến học Jazz. Chính những du học sinh học đó đã mang theo nền văn hóa của nước mình và làm phong phú cho Jazz Mỹ.
    3. Trước thập niên 60 – 70 của thế kỉ trước, Jazz là một thể loại underground, một thể loại nhạc "ngoài lề". Sau đó, chính phủ Mỹ có chủ trương giúp các Jazz band ra biểu diễn nước ngoài, đặc biệt là đến châu Phi để thuyết phục họ đứng về phe Mỹ. Như vậy, việc toàn cầu hóa âm nhạc, ở một khía cạnh, có vấn đề chính trị. Thật cay đắng, mỉa mai là những nghệ sĩ Jazz Mỹ trước đó rất nghèo khó nhưng lại được chính phủ Mỹ đưa ra các nước khác như một hình mẫu tiêu biểu của văn hóa Mỹ và nước Mỹ. Tất nhiên Jazz quá hay, và người ta yêu Jazz mà không nhất thiết phải yêu nước Mỹ. Ở Éthiopie, một nước nghèo, trong những năm 60, người ta mê Duke Ellington như điếu đổ. Và từ đây, xuất hiện một hiện tượng đặc biệt: Jazz được "xuất khẩu" sang châu Phi vì mục tiêu chính trị, thế nhưng những người châu Phi lại tiếp nhận Jazz như loại âm nhạc "nội địa" được sáng tạo bên ngoài châu lục này. Đó cũng là thời điểm Jazz mở cửa tiếp nhận những ảnh hưởng của nhiều phong cách âm nhạc trên thế giới, của nhạc châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, để trở thành loại nhạc toàn cầu với những tour biểu diễn vòng quanh thế giới của các nghệ sĩ và nhóm nhạc Jazz. Từ đó bắt đầu khuynh hướng World jazz pha trộn nhiều phong cách âm nhạc khác nhau trên thế giới vào Jazz. Ở Việt Nam, theo như tôi biết thì hai cha con các ông Quyền Văn Minh, Quyền Thiện Đắc là những người kiên trì khuynh hướng này. Ở Mỹ, trong những năm 1970, Miles Davis đã vay mượn Rock&Roll để sáng tác Jazz. Ông là nghệ sĩ Jazz lớn nhất ở Mỹ. Ông tạo ra một thứ nhạc pha trộn Rock&Roll và những hình thức âm nhạc khác sử dụng âm thanh điện tử tổng hợp. Ông sử dụng đồng thời nhiều loại nhạc cụ. Cũng bắt đầu từ thời điểm này, nhiều nhạc sĩ Jazz bắt đầu dùng nhạc cụ điện tử. Ý thức khám phá, thám hiểm trong lĩnh vực Jazz đã khiến Miles Davis tìm tòi những phương tiện, những ảnh hưởng từ những nền âm nhạc ngoại lai. Trong bản thân việc trình diễn âm nhạc của nhạc sĩ đã có sự toàn cầu hóa.
    4. Vìsao Jazz lại lan tỏa nhanh đến vậy? Có lẽ trước hết bởi một chân lí vô cùng xưa cũ: âm nhạc cuối cùng phải là âm nhạc, tài năng của người nhạc sĩ là điều quyết định. Âm nhạc phát triển bằng giá trị tự thân của mình. Âm nhạc có tính hấp dẫn toàn cầu. Điểm thứ hai là tính linh hoạt của Jazz, Jazz vừa là ban nhạc tập thể nhưng lại có khoảng trống cho từng cá nhân ứng tác (improvisation). Việc Jazz phát triển cùng với quá trình toàn cầu hóa chính là nhờ tính mở thuộc về bản chất của Jazz. Jazz hàm chứa một tiềm năng lật đổ, phản kháng âm thầm. Năm 40, Charlies Parker lấy những hình thức nhạc truyền thống, tháo ra, ráp lại tạo thành bebop music. Thứ âm nhạc ấy có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Ông lấy nhạc truyền thống châu Âu, tách ra, ráp lại theo một hòa âm (harmonie) mới. Từ giai đoạn đó về sau người ta thường chia thành Classic jazz và những loại Jazz có tính cách tân. Có những nhạc sĩ cổ điển như Charlies Parker, Miles Davis, Dizzy Gillespie... mà những người sau chỉ việc ứng tác, ứng biến ra thêm trên những bản nhạc của họ.
    5. Năm 2000, lần đầu tiên đến Việt Nam, khi nghe âm nhạc truyền thống Việt nam, tôi thấy rằng những giai điệu của dân ca Việt Nam có thể dùng nhạc cụ Jazz để biểu diễn. Tìm hiểu kĩ hơn, tôi biết rằng đã có những nghệ sĩ Việt Nam cách tân Jazz theo hướng đó. Sau đó tôi phát hiện ra câu lạc bộ của cha con ông Minh, Đắc. Họ đã làm việc đó và làm rất tốt. Vài năm sau, năm 2003 khi tôi quay lại Việt Nam, ở đây đang có một festival Jazz. Trong Festival đó có nhiều người trẻ, và cả những người Âu trình diễn Jazz. Nhìn xuống khán giả tôi cũng thấy rất nhiều người trẻ. Nhiều buổi biểu diễn diễn rà vào ban ngày. Có thể, họ đã bỏ công việc để đi xem. Nhìn họ nói chuyện về âm nhạc, giao lưu với nhạc sĩ, hào hứng và thú vị, tôi tin vào sức sống của Jazz trên đất nước này. Đó cũng chính là một hình ảnh cụ thể của toàn cầu hóa về văn hóa.
    6. Không chỉ có vậy, nhạc Jazz còn là một thành tố góp phần vào những thay đổi tích cực của xã hội. Ở Mỹ, nhạc Jazz gắn với những thay đổi về địa vị của người da đen trong xã hội. Nó góp phần xóa nhòa ranh giới đen – trắng. Năm 1920, Bix Beiderdecke và L. Amstrong, một trắng một đen, gặp nhau. Hai người cùng chơi nhạc và thứ âm nhạc đó được cả người da đen và người da trắng yêu thích. Đó là một thứ âm nhạc đa sắc tộc. Tuy Jazz là nhạc của người da đen nhưng cũng có cả những người da trắng tài hoa chơi Jazz. Trong nhạc của Minh và Đắc chơi có cả nhạc Jazz của người da trắng. Điều thú vị là nhiều người ở ngoài nước Mỹ coi Jazz là nhạc của người da đen nhưng thực ra đó là một thứ âm nhạc đa sắc tộc. Jonh McLaughlin vừa chơi với Miles Davis vừa chơi với các nhóm nhạc Ấn Độ và biểu diễn ở Nhật Bản. Ông này là người da trắng. Khi lên sân khấu người Nhật không cho ông lên vì họ nghi ngờ tài năng của ông ta. Vậy nên nếu như nguyên thủy Jazz là âm nhạc của người da đen thì giờ đây, nó không còn là thế nữa. Thật khó để nói Jazz hay cuộc đấu tranh vì quyền của người da đen cái nào là tiền đề của nhau nhưng rõ ràng, hai điều đó có mối quan hệ thật gắn bó. Một trong những lí do mà thanh niên Mỹ trong thập niên 60 thích nghe Jazz, Blues vì phong trào đấu tranh cho người đen rất mạnh.
    Hãy trở lại điểm bắt đầu. Tôi vẫn tin rằng, Dù ngày nay, số người nghe Jazz có thể không nhiều như số người nghe nhạc Pop nhưng tôi vẫn không tin rằng Jazz có thể biến mất. Tôi vẫn nhớ khi tôi còn nhỏ, không radio, không internet, chỉ một lần duy nhất, tôi được nghe Modern Jazz Quarter biểu diễn ở làng. Lần ấy đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Tôi vẫn tin rằng Jazz có khả năng giáo dục con người. Và ngày nay, nhiều nghệ sĩ Jazz đang nỗ lực cho điều đó. Là một nghệ sĩ Jazz lớn, có giọng hát đặc biệt, ông đã tiến hành các nghiên cứu về nguồn gốc nhạc Jazz từ thời Louis Amstrong, Ông bắt đầu làm những chương trình trên Radio, đưa nhạc Jazz đến dạy cho dân. Với những người như Wynton Marsaliss, chúng ta tin rằng, rồi một ngày kia Jazz sẽ trở thành một thứ âm nhạc cổ điển của thế kỉ XX.
    Lương Xuân Hà ghi


    1. Jazz fusion : một thể loại nhạc Jazz được phát triển bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ trước. Nó pha trộn Jazz với những yếu tố thuộc những phong cách âm nhạc khác, chủ yếu là Funk, Rock, R&B, nhạc điện tử nhưng đôi khi cả pop, nhạc cổ điển.... Jazz fusion chủ yếu là một thể loại nhạc hòa tấu với những tác phẩm tương đối dài. Trong số những người chơi Jazz fusion có cả những nhạc sĩ Jazz như Miles Davis, Chick Corea ... và cả những nghệ sí thuộc những thể loại khác như nghệ sĩ Rock Frank Zappa.

    Nguồn: tạp chí Tia Sáng
    http://www.tiasang.com.vn/news?id=2571
     
    Tags:
  2. tranlenguyen

    tranlenguyen Advanced Member

    Joined:
    29/10/07
    Messages:
    343
    Likes Received:
    94
    Cám ơn bác về một bài viết rất hay và sâu sắc....
     
  3. dungext

    dungext Advanced Member

    Joined:
    2/7/06
    Messages:
    2.068
    Likes Received:
    3
    :idea: Cảm ơn bác , bài viết hay quá , có nhiều bác già già k lên mạng sẽ phải đọc cái này đây :D hik thỉnh thoảng đc nghe một số bác diễn về nguồn gốc Jazz :( hik lộn sang ....
     
  4. Linh_piano

    Linh_piano Advanced Member

    Joined:
    15/12/07
    Messages:
    2.486
    Likes Received:
    11
    Bài viết tuyệt vời
    Ngồi đọc những dòng này trong khi nghe Katie Melua ngân nga Nine million bicycles , ôi chao cuộc đời này thật đáng để sống
     
  5. ttuananh

    ttuananh Advanced Member

    Joined:
    19/4/08
    Messages:
    863
    Likes Received:
    1
    Location:
    classic.vn
    E thì đêm qua nằm chờ xem Hà Lan, nghe Stacy Kent và Jim Elington ( Chơi Tenor Sacxo ) thấy cuộc đời cũng đáng để sống :lol: ,
     
  6. Mèo Sạch Thỉu

    Mèo Sạch Thỉu Advanced Member

    Joined:
    3/1/08
    Messages:
    713
    Likes Received:
    7
    Em lại thích nghe oánh tại chỗ như ca-fé Quyền Văn Minh ở HN ... vào làm một hai cốc bi nhâm nhi cùng với người yêu (ngày xưa thoai bây h là gấu roài) thì .. tuyệt.
     
  7. Cai thang

    Cai thang Advanced Member

    Joined:
    22/3/12
    Messages:
    1.067
    Likes Received:
    6
    1 bài rất cũ

    Phát biểu của Ðại sứ Raymond F. Burghardt

    Âm nhạc Mỹ: Nhạc Jazz và tính cách Mỹ
    Phát biểu tại Câu lạc bộ Phụ nữ Quốc tế Hà Nội

    Ngày 26/9/2002

    Thật vui khi có dịp phát biểu tại buổi gặp mặt hàng tháng của các bạn, đặc biệt do các bạn đã cho tôi cơ hội phát biểu ngoài những chủ đề quen thuộc mà các nhà ngoại giao thường nói đến như chính sách của Mỹ đối với Việt Nam chẳng hạn. Tôi xin giới thiệu một số nhạc công giỏi đã nhận lời biểu diễn minh họa cho bài phát biểu này, đó là "Ban nhạc Sông Hồng".

    Nhạc Jazz là một chủ đề đặc biệt ưa thích của tôi. Tôi đã chơi clarinet trong một số ban nhạc Jazz. Tôi bắt đầu yêu nhạc Jazz khi còn là một thiếu niên sống gần thành phố New York. Khi lớn lên, tôi bắt đầu đến các câu lạc bộ Jazz ở New York để xem những nhạc công Jazz tài giỏi như Dave Brubeck và Thelonius Monk biểu diễn. Tôi còn nhớ khi học ở trường Ðại học Columbia, tôi có xem Duke Ellington biểu diễn trong một nhà thờ, đó là Thánh đường Thánh John.

    Hôm nay, tôi sẽ nói về nhạc Jazz với tư cách là một biểu hiện độc đáo của văn hóa Mỹ đã mở ra một cửa sổ để chúng ta nhìn vào nền văn hóa Mỹ và những giá trị Mỹ. Tôi còn nhớ Thelonius Monk từng nói " Nhạc Jazz và tự do luôn song hành. Thực tế là như thế. Nếu tôi nói thêm vào một điều gì, thì nó sẽ trở nên phức tạp. Ðó là điều mà các bạn sẽ suy nghĩ thêm". Hôm nay, tôi sẽ đi xa hơn sự đơn giản của nhạc công Monk và làm cho vấn đề hơi phức tạp một chút. Tôi sẽ thêm vào một chút lịch sử, xã hội học và Hoa Kỳ học để giải thích.

    Vì thời gian có hạn nên tôi sẽ lược thuật lịch sử nhạc Jazz Mỹ và đề cập đến bốn chủ đề theo tôi rất quan trọng trong nhạc Jazz và nói rộng ra trong xã hội Mỹ, đó là tính đa văn hóa, sự ngẫu hứng, sự hòa nhập, và toàn cầu hóa.

    Tính đa văn hóa

    Trước hết, tôi xin nói qua về tính đa văn hóa Mỹ. Ai cũng biết Mỹ là mảnh đất của người nhập cư, nhưng câu chuyện thực sự về nước Mỹ là quá trình những người nhập cư từ những nền văn hóa rất khác nhau đã tụ lại nơi đây, cùng xây dựng một nền văn hóa mới. Sự tạo dựng này thể hiện rõ nét nhất trong nhạc Jazz.

    Hãy cùng tôi quay trở lại lịch sử thành phố cảng phía nam New Orleans. Chúng ta phải trở lại nửa sau của thế kỷ 19, tức là vào những năm 1860, khi thủy thủ phe Hợp bang giải ngũ sau cuộc nội chiến Mỹ kéo dài và khốc liệt, rời tàu và tản về quê hương ở khắp miền Nam. Trong số những thủy thủ đó có những thành viên đội quân nhạc rất muốn bán, đổi hay thậm chí cho đi những chiếc kèn trombon, trompet và các nhạc cụ khác của họ. Những nhạc cụ này rốt cuộc được bày bán ở các đường phố của New Orleans. Tại đây, những nhạc công Mỹ gốc Phi, hầu hết họ từng là những người nô lệ, đã bắt đầu dùng những nhạc cụ này để chơi nhạc trên đường phố. Những nhạc công này chỉ biết ít hoặc không được đào tạo về âm nhạc phương Tây, mà thay vào đó họ khai thác văn hóa âm nhạc dồi dào của người da đen, kể cả nhạc blue mãnh liệt, âm nhạc truyền thống dân gian và nhà thờ. Rồi đến đầu thế kỷ 20, khi người ta bắt đầu chú ý đến loại nhạc này và nguồn gốc của nó, thì hiện tượng mới này đã bắt rễ thực sự. Truyền thống người Mỹ gốc Phi sử dụng nhạc cụ châu Âu để chơi nhạc châu Phi và miền Nam nước Mỹ đã phát triển thành loại nhạc phức hợp và đa dạng mà ngày nay chúng ta được biết đến là nhạc Jazz.

    Khi trở nên phổ biến, nhạc Jazz đã tiếp thu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống dân gian và cổ điển từ châu Âu, Nam Mỹ, vùng Caribê, châu Á và những vùng khác trên thế giới, và trở thành hình thức âm nhạc đa văn hóa đầu tiên và quan trọng nhất của Mỹ. Dĩ nhiên, hiện nay nhạc Jazz đã mang tính toàn cầu và nhiều nhà soạn nhạc Jazz và chơi nhạc Jazz xuất sắc đã pha trộn nhạc Jazz với truyền thống âm nhạc từ những nơi xa xôi như Braxin, Pháp, Thụy Ðiển và Nam Phi. Thực ra một số nhà phê bình nhạc Jazz ở Mỹ hiện nay đánh giá sân khấu nhạc Jazz ở châu Âu mang tính sáng tạo và năng động hơn ở Mỹ. Hay nói cách khác, ngày nay nhạc Jazz không chỉ mang tính đa văn hóa mà còn đa quốc gia. Ðể minh họa, ban nhạc của chúng tôi sẽ chơi bản nhạc của ông Quyền Văn Minh lấy nguồn cảm hứng từ những bản nhạc truyền thống Việt Nam.

    (Ban nhạc Sông Hồng chơi bản nhạc của ông Minh)

    Sự ngẫu hứng

    Chủ đề thứ hai của tôi là sự ngẫu hứng. Khái niệm "ngẫu hứng" có thể được nhiều người hiểu theo nhiều cách khác nhau. Từ điển Webster định nghĩa động từ "ngẫu hứng" là "biên soạn, ngâm nga hay hát một cách tuỳ hứng", hay "hư cấu ra từ những cái sẵn có". Kỹ năng này là đặc trưng của một nhạc công Jazz thực sự và làm cho nhạc Jazz trở nên một hình thức âm nhạc độc đáo trên thế giới. Sự ngẫu hứng sẽ đề cao vai trò của người chơi solo từ chỗ chỉ là một người biểu diễn và tái hiện ý tưởng của người khác thành một người soạn nhạc. Nó tạo ra cho nhạc Jazz cảm giác hưng phấn mới trong mỗi cuộc biểu diễn. Chơi tốt nhạc Jazz sẽ tạo ra khả năng đặc biệt về tư duy nhanh của "chính mình” để ngẫu hứng theo cách khiến cho khán giả chú ý. Ðiều này nghe thì có vẻ đơn giản nhưng thực sự không dễ. Phải có một khả năng phối hợp tốt giữa kinh nghiệm, kỹ thuật và sự sáng tạo để ngẫu hứng thành công. Ðó là những đặc trưng giúp cho các nhạc công Jazz ở New Orleans phát triển vào đầu thế kỷ 20. Cùng với những nhân vật huyền thoại như King Oliver và Jelly Roll Morton (người nhận là "đã phát minh" ra nhạc Jazz) Louis armstrong là một trong những nhạc công Jazz nổi tiếng nhất và được yêu mến nhất, đã thu hút được thính giả Mỹ và mở rộng ảnh hưởng của nhạc Jazz vượt ra khỏi New Orleans và miền Nam. Với sự hưởng ứng của các nhạc sỹ da trắng và da đen ở những thành phố khác như Chicago, St. Louis, Kansas, Detroit và New York, thời kỳ nhạc Jazz của thập niên 20 đã mở rộng các chương trình biểu diễn âm nhạc ở nước Mỹ.

    Vậy đâu là mối liên hệ giữa sự ngẫu hứng trong nhạc Jazz và cách người Mỹ tự đánh giá mình? Nói cách khác, tại sao người Mỹ lại bị cuốn hút bởi đặc thù ngẫu hứng này của nhạc Jazz đến như vậy? Trước hết, do tính sáng tạo, sự bột phát và "tư duy của chính mình" đặc trưng cho những tác phẩm xuất sắc nhất của nhạc Jazz sơ khai và là những đặc thù được đánh giá cao trong một xã hội được vận hành một cách tự do, dân chủ và lạc quan của cái gọi là "thập niên 20 sôi động".

    Thứ hai và có lẽ còn quan trọng hơn là việc hỗ trợ sự phát kiến và sáng tạo này trong nhạc Jazz đã trở thành cơ sở của những quy tắc đã được xác định. Những nhạc sỹ Jazz giỏi nhất hiện nay có sự hiểu biết sâu sắc về âm nhạc truyền thống. Họ có thể chơi cả nhạc Mozart theo kết cấu và hình thức cổ điển và đồng thời khi họ chuyển sang sáng tác nhạc Jazz, thì sự ngẫu hứng tạo ra một không gian âm nhạc mới trong nội tại của những quy tắc trên. Những nhạc công Jazz xuất sắc của Mỹ hiện nay như Wynton Marsalis và Herbie Hancock là những người được đào tạo về nhạc cổ điển đã bổ sung vào những yếu tố sáng tạo vốn rất được người Mỹ ưa chuộng. Thậm chí hồi những năm 40, Benny Goodman là một người chơi kèn clarinet nhưng có thể chơi cả nhạc Mozart và Bartok lẫn nhạc của Roll Morton. Những ngôi sao nhạc Jazz này vẫn tuân theo những quy tắc, vẫn có cơ sở nhịp điệu và hòa âm trong sự ngẫu hứng của họ, nhưng trong khuôn khổ những quy tắc đó vẫn tự thể hiện cái tôi của mình. Tôi tin rằng điều này khiến nhạc Jazz trở thành một ẩn dụ của tính cách Mỹ lý tưởng: sự sáng tạo ngay lập tức trong khuôn khổnhững quy tắc đã xác định, cho phép cá nhân phát triển trên cơ sở nắm vững những nguyên lý.

    Bây giờ tôi xin mời ban nhạc biểu diễn minh họa việc một ban nhạc Jazz biểu diễn một bài hát quen thuộc thông qua sự ngẫu hứng trong quá trình sáng tạo.

    (Ban nhạc Sông Hồng chơi bản "Những chiếc lá mùa thu")

    Sự hòa nhập

    Chủ đề thứ ba của tôi là sự hòa nhập về chủng tộc. Mọi người đều biết Mỹ có một lịch sử bất ổn về quan hệ chủng tộc. Trong hàng trăm năm tồn tại và phát triển như một quốc gia, xã hội Mỹ đã nỗ lực giải quyết những xung đột cố hữu trong một nền dân chủ đa chủng tộc, đa văn hóa đầu tiên trên thế giới này.

    Thường sự hòa hợp chủng tộc bắt đầu ở những góc kín đáo của xã hội Mỹ, ví dụ như trong thời kỳ chín muồi của nền văn hóa Jazz chẳng hạn. Có những ví dụ nổi tiếng hơn về hội nhập như trong thể thao khi Jackie Robinson phá vỡ rào cản màu da để chơi bóng chày cho Brooklyn Dodgers hay sự hòa nhập đầykhó khăn của các trường công ở Little Rock, arkansas vào những năm 50.

    Nhưng 20 năm trước khi những sự kiện nổi tiếng đó xảy ra, sự hòa nhập đã diễn ra trong nhạc Jazz. Những nhNew Orleansạc công da trắng ở Chicago bắt đầu chú ý tới loại nhạc mới từ New Orleans. Họ lắng nghe trên đài, trên đường phố và trong những câu lạc bộ khi người di cư đi về phía Bắc tìm việc làm trong các nhà máy lớn đã lập nên những khu dân cư và ảnh hưởng đến xã hội đô thị. Những nhạc công Chicago này kết hợp trình độ kỹ thuật điêu luyện với những hình thức sáng tạo trong đảo phách và ngẫu hứng, kế thừa những nhà tiên phong trong nhạc Jazz trước đó. Họ tạo ra cái gọi là nhạc Jazz "phong cách Chicago". Tay kèn trompet Jimmy McPartland, tay kèn cocnê Bix Beiderbecke, tay trống Gene Krupa, và các tay kèn clarinet Pee Wee Russell, Mezz Mezzrow và Benny Goodman là những nhạc công Jazz mang "phong cách Chicago" và có ảnh hưởng nhiều nhất.

    Rồi "Jazz Chicago" không chỉ là một phong cách Jazz của riêng những nhạc công người da trắng. Có lẽ nổi tiếng nhất trong số những người này là Benny Goodman với tài năng xuất chúng trong thập niên 30 đã đi tiên phong trong phong trào hòa nhập các ban nhạc Jazz trên khắp nước Mỹ. Ðiều này ngày nay nghe có vẻ là một giai thoại bình thường, nhưng trong thời kỳ phân biệt đối xử ở miền Nam nước Mỹ trước phong trào đòi quyền công dân, thì sự hòa nhập của các ban nhạc là một bước đột phá đầu tiên. Vào thời đó, các nhóm nhạc đa chủng tộc bị luật pháp cấm cùng phối hợp biểu diễn ở nhiều nơi, kể cả khắp miền Nam. Bất chấp lệnh cấm này, Benny Goodman và bạn bè đã lập nên một nhóm những nhạc công giỏi nhất, bất kể thuộc chủng tộc nào. Goodman đã đưa người chơi piano da đen tài năng Teddy Wilson và người chơi đàn tăng rung Lionel Hampton (đã qua đời đầu tháng này) vào nhóm của mình, và họ cùng nhau đi đây đó biểu diễn trên khắp nước Mỹ. Nhiều câu lạc bộ ở miền Nam cấm không cho ban nhạc của họ đến, nhưng họ vẫn tiếp tục biểu diễn và được công chúng tán thưởng ở các thành phố miền Bắc và trở thành một trong những nhóm giầu sáng tạo nhất trong lịch sử nhạc Jazz. Nhiều nhóm đa chủng tộc khác cũng làm theo cách của họ. Ðầu những năm 60, trước Martin Luther King và phong trào quyền công dân bắt đầu có ảnh hưởng trong những lĩnh vực khác của đời sống nước Mỹ, một người da đen là Miles Davis và một người da trắng là Gil Evans đã cùng nhau thử nghiệm loại nhạc Jazz hiện đại và sự hòa nhập trong nhạc Jazz đã trở thành một thực tế. Một trong những album Jazz nổi tiếng nhất thời hiện đại, "Những phác họa về Tây Ban Nha" là sản phẩm tuyệt vời của sự hợp tác giữa Miles và Evans năm 1958.

    Toàn cầu hóa

    Nhạc Jazz là một động lực của toàn cầu hóa trước khi thuật ngữ này được sử dụng. Về hòa nhập, nhạc Jazz đi tiên phong so với các khía cạnh khác của văn hóa Mỹ. Từ chỗ là loại nhạc mang đặc trưng Mỹ đầu thế kỷ 20, nhạc Jazz cuối Chiến tranh Thế giới thứ II đã thực sự mang hình thức biểu đạt quốc tế. Các nhạc công và nhà soạn nhạc từ Braxin đến Cape Verde, từ Nhật Bản đến Pháp, tất cả đã tạo ra một dấu ấn rõ nét trong nhạc Jazz và làm cho loại nhạc này thực sự mang tính toàn cầu. Ví dụ một nhạc công Jazz trẻ người Mỹ vào thời đó chắc chắn sẽ tiếp thu ảnh hưởng của Cuba và của cả những người tiên phong ở Mỹ chẳng hạn.

    Chỉ xin đơn cử một ví dụ: người cải biên nhạc và tay kèn trumpet Chico O'Farrill mất năm ngoái là một ví dụ điển hình về tính quốc tế hóa của nhạc Jazz. Sinh ở Havana, Cuba, bố là người Ailen, mẹ là người Ðức, ông đến New York năm 1948 và bắt đầu kết hợp nhạc Jazz với nhạc Phi-Cuba. Ông nhanh chóng hợp tác với những tay nhạc Jazz kiệt xuất như Benny Goodman và Charlie Parker. Những nhạc sỹ như Chico O'Farrill giúp mở rộng phạm vi nhạc Jazz bằng cách kết hợp ảnh hưởng của nhiều loại âm nhạc. Như ông tự nhận xét về mình, Chico O'Farrill không muốn biểu diễn nghe giống như "Glenn Miller với nhạc nhảy hay Benny Goodman với nhạc vũ điệu". Do đó ông xây dựng một thể loại nhạc mới được gọi là nhạc "Cubop".

    Tuy nhiên, trước khi ông O'Farrill xuất hiện, đầu những năm 20, nhạc Jazz đã vượt ra khỏi bờ cõi nước Mỹ và bắt đầu hành trình mới ví dụ như ở châu Âu. Pháp đã sản sinh ra một số nhạc công Jazz nổi tiếng nhất thế giới kể cả tay violon Stephan Grapelli và tay ghita tiên phong Django Reinhardt gốc dân Zigan Bỉ. Tôi cũng nói thêm rằng trong thập niên 50, nhiều nhạc sĩ Jazz Mỹ đã được đón chào ở Paris. Ví dụ tay saxophone Dexter Gordon sáng tác một số những tác phẩm xuất sắc nhất của ông khi sống ở Paris. Nhiều người khác trước và sau ông đã đến Paris để tìm một xã hội khoan dung và công chúng khán giả biết thưởng thức. Ðầu những năm 90, một bộ phim hay "Nửa đêm âm vang" đã kể về cuộc sống của Dexter Gordon ở Paris. Ngày nay, nhạc Jazz đang trở nên được ưa chuộng trên khắp thế giới như là một phần của phong trào "Âm nhạc Thế giới" với các nghệ sỹ ở châu Phi, Nam Mỹ, châu Á và những nơi khác đang kết hợp các yếu tố Jazz với âm nhạc bản địa để tạo ra một loại âm nhạc mới.

    Và bây giờ tôi xin mời Ban nhạc Sông Hồng chơi một số bản nhạc Jazz mà tôi đã đề cập đến. Trước hết là bản nhạc Dixieland truyền thống của những năm đầu thế kỷ 20, bản nhạc này có lẽ đã được trình diễn hồi đó ở New Orleans hay Chicago.

    (Ban nhạc Sông Hồng chơi bản "Bill Bailey")

    Tiếp đến là một ví dụ về "nhạc swing" rất thịnh hành vào những năm 30 và 40.

    (Ban nhạc Sông Hồng chơi bản "Tâm trạng")

    Theo chiều dài lịch sử nhạc Jazz, đây là một ví dụ về điệu bebop hiện đại của những năm 50 do Dizzy Gillespie và Charlie Parker sáng tác, thể hiện qua bài hát rất hay "Ðêm ở Tunisi".

    (Ban nhạc Sông Hồng chơi bản "Ðêm ở Tunisia")

    Cuối cùng, chúng ta sẽ kết thúc buổi nói chuyện này bằng một bản nhạc rất hay của nhạc sĩ Jazz đương đại Herbie Hancock, một bài hát vui có tựa đề "Người bán dưa hấu".

    (Ban nhạc Sông Hồng chơi bản "Người bán dưa hấu")
     
  8. tepkho

    tepkho Advanced Member

    Joined:
    10/9/08
    Messages:
    83
    Likes Received:
    1
    Thks bác loving. Jazz thật cuốn hút.
     

Share This Page

Loading...