Vì bạn đã chọn ATC active, con đường chông gai đã rút ngắn lại rất nhiều. Tôi khuyên bạn chọn DAC tích hợp (active) volume control để khai thác hiệu quả kết nối balance của loa active. Benchmark LA4 hay Weiss DAC 501 (MK2) là những thứ như thế - đều rất chất lượng. Và nó tuỳ thuộc vào khả năng chấp nhận về chi phí của bạn. A top tier DAC with volume control = ultra preamp.
Xưa, khi Em chưa chơi 16A, Em đã từng nghĩ nghĩ loa ATC Active Pro thì chỉ cần một chiếc DAC có chỉnh âm lượng là đủ. Nhưng khi nghe lâu, bắt đầu đổi thiết bị, đổi dây, đổi nguồn điện, Em nhận ra phần pre ảnh hưởng tới chất âm của ATC lớn hơn tưởng tượng rất nhiều. ATC active pro là dòng loa có chất âm rất thật, tốc độ nhanh, trung âm cực kỳ lộ chi tiết và độ động cao. Chính vì vậy, nó gần như phơi bày toàn bộ chất lượng của tầng tiền khuếch đại phía trước. Nếu nguồn phát hoặc tầng chỉnh âm lượng chưa tốt, tiếng sẽ lộ ra ngay: khô, lạnh, mỏng, thiếu nhạc tính, âm hình phẳng. Ngược lại, nếu phần pre đủ tốt, nó có thể cho chất âm vừa chính xác vừa giàu cảm xúc, nghe lâu rất cuốn. Vậy giữa DAC kiêm pre và DAC + pre rời, mỗi hướng có ưu nhược điểm gì? Theo Em: 1/ DAC kiêm preamp là giải pháp gọn gàng và hiện đại, đây là kiểu phối ghép khá phổ biến hiện nay. Ưu điểm đầu tiên là đường tín hiệu ngắn, ít thiết bị, ít dây dẫn và giảm khả năng nhiễu nền. Với loa active như ATC, điều này thực sự có lợi vì loa khá nhạy với chất lượng tín hiệu đầu vào. Một bộ DAC kiêm pre tốt thường cho nền âm sạch, tiếng nhanh, dải trầm gọn, âm hình chính xác, độ tập trung tốt. Nếu các Cụ thích kiểu nghe chuẩn xác, kiểm âm, rõ nét, tốc độ cao thì hướng này rất hợp. Ngoài ra, dùng DAC kiêm pre cũng tiết kiệm chi phí đáng kể. Một chiếc preamp analog thực sự tốt để ghép ATC thường không hề rẻ. Chưa kể còn phải đầu tư thêm dây tín hiệu, dây nguồn và xử lý đồng bộ hệ thống. Tuy nhiên, nhược điểm của hướng này cũng khá rõ. Nhiều DAC kiêm pre hiện nay có chất âm thiên về kỹ thuật, đặc biệt các máy kiểu studio hoặc dùng điều chỉnh âm lượng số, khi ghép với ATC rất dễ cho cảm giác đúng, sạch, chi tiết nhưng thiếu độ dày và cảm xúc. Nghe ban đầu có thể rất ấn tượng, nhưng nghe lâu đôi khi thấy hơi lạnh, thiếu độ mềm mại, vocal chưa đủ tình cảm, âm thanh thiếu độ mở. Đây là điều khá nhiều người chơi ATC gặp phải. Ngoài ra, không phải DAC nào cũng có tầng xuất âm đủ khỏe để kéo tín hiệu cân bằng dài hoặc điều khiển tốt loa active. Một số máy cho tiếng khá mỏng và thiếu độ lớn sân khấu khi đánh thẳng vào loa Active. 2/ DAC và preamp rời – hướng chơi giàu nhạc tính hơn. Sau một thời gian chơi ATC, Em cuối cùng lại chuyển sang dùng preamp rời. Lý do rất đơn giản là ATC quá trung thực, nó không tự thêm màu âm hay làm đẹp âm thanh. Vì vậy, phần pre gần như quyết định độ hồn của hệ thống. Một preamp tốt có thể mang lại trung âm dày hơn, âm hình lớn hơn, độ động tốt hơn, không gian tự nhiên hơn, tiếng hát có cảm xúc hơn. Đặc biệt, những pre đèn chất lượng tốt hoặc pre bán dẫn chạy thuần Class A thường ghép với ATC rất hay. Cái hay ở đây không phải kiểu màu mè hay làm sai âm thanh, mà là giúp tiếng bớt khô, tăng độ đầy đặn và tạo cảm giác âm nhạc tự nhiên hơn. Nhiều hệ ATC khi đánh thẳng DAC nghe rất chuẩn nhưng hơi monitor. Chỉ cần thêm một preamp phù hợp, chất âm có thể chuyển sang hướng giàu nhạc tính hơn rất rõ. Ngoài ra, preamp rời cho độ động lớn hơn, dải trầm đầy hơn, sân khấu thoáng hơn, cảm giác âm thanh có quy mô hơn. ATC Active Pro là dòng loa có khả năng thể hiện độ động rất mạnh, nên khi gặp pre tốt, nó bung ra khá rõ. Tuy nhiên, hướng chơi này cũng có nhược điểm. Đầu tiên là chi phí. Muốn hơn được DAC kiêm pre thì preamp phải thực sự chất lượng. Nếu không, chỉ là thêm thiết bị, thêm dây dẫn nhưng chưa chắc hay hơn. Thứ hai là rất dễ phối ghép quá tay. Nếu pre đèn quá mềm hoặc tốc độ chậm, ATC có thể mất đi sự kiểm soát vốn là điểm mạnh của nó dải trầm dễ lùng bùng, tiếng chậm, giảm độ chính xác, mất chất monitor đặc trưng. Vì vậy, ATC thường hợp với các pre trung tính, tốc độ tốt, độ động cao, giàu hài âm nhưng không quá màu. Theo trải nghiệm của Em, lúc đầu thích DAC kiêm pre vì sự gọn gàng và độ sạch sẽ, nhưng khi chơi lâu hơn lại dần chuyển sang DAC và preamp rời để tìm thêm độ dày, chiều sâu, nhạc tính, cảm xúc khi nghe lâu dài. Vài dòng chia sẻ để Cụ Cuongtx2009hn suy nghĩ
Bạn phân tích đúng! Như preamp SCA2 của ATC hoàn toàn tương thích với loa active của chính họ (điện áp và dòng điện), nhưng sự “tối ưu” này không cho ra thứ âm thanh làm sướng người nghe. Như tôi đã nói, sự thật không phải lúc nào cũng được hoan nghênh. Âm nhạc là thứ mọi người muốn chứ không phải chỉ nghe rõ âm thanh.
Em cảm ơn bác đã tư vấn đúng những gì em tìm hiều và đúng cái băn khoăn trăn trở đúng bấy lâu nay, vậy tầm ngân sách tầm 2k USD thì dac/preamp hay preamp nào cho chất âm ấm áp mượt mà
Dac/Pre có chất âm mượt, analog cao thì nên chọn theo hướng 1. DAC mạch ladder DAC R-2R thật sự (không phải delta-sigma) 2. Volume điều chỉnh bằng mạng điện trở (relay stepped attenuator hoặc resistor ladder) Trên thế giới, các hãng như Holo Audio, MSB, Rockna, Metrum Acoustics, Totaldac, Denafrips... là những hãng tiêu biểu được cộng đồng audiophile đánh giá rất cao, tuy nhiên giá thành lại cao hơn 2k usd. Nếu cứ phải dac/pre giá tầm 2k usd thì dường như Cụ đã cố tình hướng vào Audio-gd R-27HE. Vì Em không có biết nó nên Cụ mang nó về thử đi xem sao. Ơ, Em lại vừa nghiên cứu kỹ vụ Benchmark LA-4 mà Cụ ở trên đã nêu, dường như em nó là preamp chứ không có DAC.
Ghép hầu Cụ cuongtx2009hn SCM-16A với Eversolo A8 (kém hơn em dac/pre Cụ đang hỏi). Em thấy tạm được, nhưng để nghe tạm thì kiểu gì điện nhà Cụ cũng phải đi dây riêng, dây balanced phải lựa kỹ cho hợp.
Nhân việc nói về không gian của dàn audio, Em thấy đây là một chủ đề rất thú vị vì hầu như ai chơi audio cũng từng nói tới: sân khấu âm thanh, hình âm, chiều sâu, độ thoáng, vị trí nhạc cụ, lớp lang, không khí phòng thu… nhưng ít khi đi đến bản chất thật sự của nó. Thực tế, “không gian” trong audio không phải là thứ tồn tại vật lý trong phòng nghe. Hai chiếc loa trước mặt hoàn toàn không tạo ra ca sĩ thật đứng giữa hay cây guitar nằm phía sau bên trái. Tất cả chỉ là cảm giác mà não người tái dựng lại từ tín hiệu âm thanh của hai kênh trái phải. Nói cách khác, không gian âm thanh là một dạng “ảo giác thính giác” được tạo ra khi hệ thống tái hiện chính xác những thông tin định vị đã được ghi sẵn trong bản thu. Điều quan trọng là mọi cảm giác về chiều rộng, chiều sâu, vị trí nhạc cụ hay không khí phòng thu thực ra đều đã tồn tại bên trong tín hiệu âm thanh từ trước, chứ dàn máy không tự “bịa” ra chúng. Vậy “thông tin không gian chứa trong bản thu” thực chất là gì? Khi ca sĩ hay nhạc cụ phát ra âm thanh trong phòng thu hoặc khán phòng, âm thanh đó không chỉ đi thẳng vào micro. Nó còn phản xạ lên tường, dội xuống sàn, phản hồi từ trần, vang trong không khí, tới từng micro ở những thời điểm khác nhau. Ví dụ: tiếng violin tới micro bên trái sớm hơn micro bên phải một chút; tiếng vang của khán phòng tới chậm hơn tiếng trực tiếp; âm phản xạ phía sau tới nhỏ hơn và trễ hơn; giọng hát đứng gần micro sẽ có tỷ lệ âm trực tiếp nhiều hơn âm vang. Tất cả những khác biệt cực nhỏ đó đều được ghi lại vào bản thu. Não người dùng chính những dấu hiệu này để suy luận nhạc cụ nằm ở đâu, gần hay xa, cao hay thấp, trước hay sau, phòng lớn hay nhỏ, có vang nhiều hay ít... Nói cách khác: dàn audio không tạo ra không gian, mà chỉ cố gắng tái hiện lại chính xác những dấu vết không gian đã được lưu trong bản ghi âm. Nếu hệ thống tái tạo sai những tín hiệu cực nhỏ này thì sân khấu sẽ co lại, nhạc cụ dính vào nhau, giọng hát phẳng, mất cảm giác trước sau. Ngược lại, nếu tái tạo đúng thif ca sĩ sẽ đứng rõ ở giữa, nhạc cụ tách lớp, chiều sâu xuất hiện, nghe được không khí của phòng thu hay khán phòng. Đó là lý do vì sao có những hệ thống khiến người nghe cảm thấy như “mở được cánh cửa vào phòng thu”. 1/ Chênh lệch thời gian giữa hai kênh. Đây là yếu tố quan trọng nhất để não định vị âm thanh. Nếu âm thanh đến tai trái sớm hơn tai phải chỉ vài phần triệu giây, não sẽ hiểu nguồn âm nằm bên trái. Nếu hai loa phát hoàn toàn đồng thời, âm hình sẽ nằm chính giữa. Vì vậy độ chính xác về thời gian, khả năng tái tạo xung động, sự đồng bộ giữa hai kênh… ảnh hưởng cực mạnh tới vị trí nhạc cụ và độ rõ của hình âm. Đây là lý do vì sao nhiều loa chủ động cho cảm giác định vị rất chắc. Ví dụ, nhiều model của ATC dạng chủ động thường cho vị trí nhạc cụ rất ổn định, center rất khóa, sân khấu không bị rung hình... Vì ampli được tối ưu trực tiếp cho từng củ loa nên kiểm soát thời gian tốt hơn, giảm sai lệch giữa các dải, đồng bộ pha tốt hơn... Trong khi loa thụ động phụ thuộc rất nhiều vào ampli ghép cùng, phân tần, khả năng kiểm soát tải loa. Nên cùng một cặp loa nhưng đổi ampli có thể làm không gian thay đổi rất mạnh. 2/ Chênh lệch cường độ giữa hai kênh. Tai người cũng định vị âm thanh bằng độ lớn. Bên nào lớn hơn một chút thì não sẽ cảm thấy âm nằm lệch về bên đó. Chỉ lệch rất nhỏ thôi là vị trí ca sĩ đã có thể bị kéo lệch khỏi trung tâm. Cho nên độ cân bằng hai loa, độ đồng đều của linh kiện, mức âm lượng giữa hai kênh … đều ảnh hưởng trực tiếp tới hình âm. Những hãng loa kiểm soát sai số củ loa rất chặt thường có center image cực kỳ ổn định. Đây cũng là một điểm mạnh lâu nay của ATC. 3/ Độ đồng pha. Đây là yếu tố rất nhiều người đánh giá thấp nhưng thực tế lại ảnh hưởng mạnh tới không gian. Nếu pha không chuẩn, giọng hát bị phình, vị trí nhạc cụ mờ, chiều sâu giảm, âm thanh dính vào nhau. Ngược lại, khi đồng pha tốt, khoảng cách giữa nhạc cụ rõ ràng, có khoảng không quanh từng nhạc cụ, sân khấu tách lớp tốt hơn. Đây là lý do thiết bị giải mã khác nhau cho không gian khác nhau, dây tín hiệu khác nhau cho cảm giác chiều sâu khác nhau, ampli khác nhau cho độ tách lớp khác nhau. Không hẳn vì màu âm, mà chủ yếu do ảnh hưởng tới thời gian, pha và những biến động cực nhỏ của tín hiệu. Loa ATC thường được đánh giá cao về khả năng giữ pha ở dải trung âm nên giọng hát đứng rất thật, vị trí nhạc cụ ổn định, hình âm có cảm giác “monitor” hơn là kiểu lung linh giả tạo. 4/ Quan hệ giữa âm trực tiếp và âm phản xạ. Tai người không chỉ nghe âm trực tiếp từ loa mà còn nghe cả âm phản xạ từ tường, sàn, trần, đồ đạc trong phòng. Nếu phản xạ tới quá sớm sân khấu bị nông, hình âm thiếu tập trung, vị trí nhạc cụ nhòe. Nếu kiểm soát phản xạ tốt hình âm nổi rõ, chiều sâu tăng mạnh, nền âm tĩnh hơn. Đây là lý do vì sao việc đặt loa quan trọng vô cùng. Nhiều khi dịch loa vài chục phân, thay đổi hướng chĩa loa, thay đổi khoảng cách tới tường… còn làm thay đổi không gian mạnh hơn đổi thiết bị. ATC cũng là kiểu loa rất nhạy với vị trí đặt, nếu đặt chưa đúng dễ thấy khô, sân khấu chưa mở, âm hình hơi phẳng... Nhưng khi đặt đúng center rất chắc, lớp lang cực rõ, chiều sâu xuất hiện rất tự nhiên. 5/ Độ méo và nền nhiễu. Không gian trong bản thu thường nằm ở những tín hiệu rất nhỏ, tiếng vang, âm ngân, phản xạ phòng thu, tiếng thở, độ ngân của nhạc cụ. Nếu hệ thống có méo thấp, nền nhiễu thấp, khả năng tái hiện vi động học tốt.m, khi đó người nghe cảm thấy sân khấu sâu hơn, không gian mở hơn, nền âm đen hơn, nhạc cụ thoát khỏi loa rõ hơn. Ngược lại, khi méo hoặc nhiễu cao các tín hiệu không gian bị che lấp, sân khấu co lại, mọi thứ dính vào mặt loa. Đây là lý do loa ATC thường cần ampli khỏe và kiểm soát tốt. Nếu ampli thiếu dòng âm sắc có thể vẫn đúng nhưng sân khấu sẽ bị ép phẳng, độ mở giảm, nhạc cụ thiếu không khí. Rất nhiều người nghe ATC với ampli yếu rồi kết luận ATC không có soundstage, trong khi thực chất là loa chưa được kiểm soát đúng mức. 6/ Dải trung âm là trung tâm của không gian. Nhiều người nghĩ dải cao tạo không gian, nhưng thực tế phần quan trọng nhất lại là trung âm. Giọng hát, violin, guitar, kèn… đều nằm chủ yếu ở dải này. Nếu trung âm sạch và tuyến tính giọng hát đứng rõ, lớp lang tốt, chiều sâu dễ xuất hiện, ATC nổi tiếng chính ở điểm này, dải trung âm dome của hãng có méo rất thấp, độ động cực tốt, độ chính xác pha cao Nên thường cho vocal rất thật, vị trí ca sĩ rõ ràng, nhạc cụ đứng ổn định. Đó là kiểu không gian thiên về sự thật và ổn định hơn là kiểu phóng đại hiệu ứng sân khấu. Dải trầm cũng ảnh hưởng tới không gian. Trầm dư thường làm sân khấu phình, âm vang bị che mất chiều sâu. Trầm gọn và kiểm soát tốt lại giúp nền âm sạch hơn,!chiều sâu rõ hơn, lớp lang tốt hơn. Nhiều hệ nghe tưởng như “ít trầm hơn” nhưng thực ra lại có không gian tốt hơn rất nhiều. 7/ Bản thu quyết định giới hạn cuối cùng. Nếu bản ghi âm không chứa thông tin không gian thì dàn audio không thể tự tạo ra. Có những album chiều sâu rất lớn không khí khán phòng cực rõ, sân khấu rộng vượt ngoài loa. Nhưng cũng có nhiều bản thu bị nén quá mạnh ,mọi thứ dính vào nhau, giọng hát áp sát mặt loa, gần như không có chiều sâu. Vậy, không gian của dàn audio thực chất là khả năng tái hiện trung thực những dấu hiệu định vị và âm vang vốn đã được ghi lại trong bản thu. Một hệ thống càng đúng thời gian, đúng pha, méo thấp, động học tốt, kiểm soát phản xạ phòng tốt.thì não người càng dễ dựng lại được một sân khấu âm thanh ba chiều chân thực. Và đó cũng là lý do vì sao đôi khi đổi vị trí loa, thay ampli khỏe hơn, xử lý phòng nghe, hoặc chỉ đổi một thiết bị giải mã phù hợp… lại khiến cả không gian âm nhạc “mở ra” rất rõ dù âm sắc gần như không thay đổi.
Nóng quá, Em rảnh rỗi viết bài cho box đỡ trôi. Nhiều người đến với ATC vì sự chính xác, nhưng ở lại với ATC lại là một câu chuyện khác. Lúc mới chơi, người ta thường muốn hệ thống tạo cảm giác hấp dẫn thật nhanh: tiếng trầm nhiều lực, chi tiết nổi rõ, âm hình sắc nét, mở âm lượng lớn nghe mạnh và dễ tạo cảm giác kích thích. Những đôi loa như SCM20, SCM50 hay SCM100 đúng là có khả năng làm điều đó. Chúng sở hữu tốc độ đáp ứng rất nhanh, độ động lớn và khả năng tái tạo dải trung thuộc hàng đặc biệt trong thế giới âm thanh. Người nghe dễ cảm nhận được độ thật của giọng hát, vị trí nhạc cụ và sự thay đổi năng lượng trong bản thu mà không nhiều hãng loa làm được. Nhưng càng chơi lâu với ATC, nhiều người càng nhận ra điều khó nhất không phải là làm hệ thống gây ấn tượng mạnh trong vài phút đầu, mà là làm cho nó có thể nghe hàng giờ liền mà vẫn thấy dễ chịu và còn muốn nghe tiếp. ATC là kiểu loa không che giấu nhiều thứ. Nó không tự thêm độ ngọt cho giọng hát, không làm mềm cạnh âm của tiếng trống hay tiếng guitar, cũng không tự bồi thêm độ dày hài âm cho những bản thu vốn khô và mỏng. Chính vì vậy, nếu hệ thống hoặc phòng nghe chưa cân bằng, ATC sẽ làm lộ ra ngay các hiện tượng như tiếng trầm trên bị dội và cộng hưởng, tiếng bass nghe “boong boong” như có âm thùng, cạnh âm thanh hơi gắt và cứng, hoặc sự khác biệt quá lớn giữa album thu tốt với album thu bình thường. Điều này đặc biệt rõ với các mẫu loa lớn như SCM100. Loa càng lớn thì khả năng tái tạo quy mô sân khấu, áp lực âm thanh và độ động càng thật, nhưng đồng thời cũng càng nhạy với phòng nghe và phối ghép. Chỉ cần lệch một chút về vị trí loa, khoảng cách tới tường hoặc cân bằng năng lượng toàn hệ là âm thanh có thể trở nên khô, cứng hoặc nặng tính kiểm âm. Nhiều người ban đầu nghĩ rằng mình cần thêm chi tiết, thêm tốc độ và thêm độ mở. Nhưng càng đi sâu lại càng thấy ATC vốn đã dư thừa những thứ đó. Nếu tiếp tục đẩy hệ thống theo hướng làm cạnh âm sắc hơn, dải trung cao nổi hơn, tiếng bass đập mạnh hơn và chi tiết bị đẩy ra phía trước quá nhiều, hệ thống sẽ rất dễ trở thành căng, mệt và chỉ hợp với vài bản thu kiểu trình diễn. Nghe vài bài đầu có thể rất kích thích, nhưng nghe trọn một album lại nhanh xuống sức. Đó là lúc nhiều người chơi ATC bắt đầu đổi hướng. Thay vì cố làm âm thanh sáng hơn, mạnh hơn và tạo hiệu ứng hơn, họ bắt đầu tìm tới độ liền mạch giữa các dải âm, sự liên tục tự nhiên của hài âm, cảm giác thư giãn khi nghe lâu, độ dày tự nhiên của giọng hát và nhạc cụ, cũng như khả năng nghe được nhiều album khác nhau mà không bị mệt. Một hệ ATC trưởng thành thường không tạo cảm giác “đập vào tai” ngay lập tức. Nhưng càng nghe lâu càng thấy âm nhạc có dòng chảy hơn, giọng hát có hơi thở và cảm xúc hơn, tiếng trầm bớt cảm giác đang “gõ vào thùng loa”, không gian âm thanh bớt gồng cứng và ngay cả những album thu không quá tốt vẫn còn giữ được phần hồn của âm nhạc. Đó cũng là lúc người nghe chuyển từ việc liên tục thử âm thanh sang việc thực sự nghe nhạc. Điều thú vị là rất nhiều người từng dùng loa lớn cuối cùng lại nhớ những đôi loa kiểm âm nhỏ như SCM20. Không phải vì SCM20 vượt SCM100 về đẳng cấp, mà vì loa nhỏ thường có sự đồng nhất tự nhiên cao hơn, ít kích thích cộng hưởng phòng hơn và dễ đạt trạng thái cân bằng tổng thể hơn. SCM100 khi thiết lập đúng có thể tạo ra sân khấu lớn, áp lực âm thanh giống biểu diễn thật và cảm giác thoải mái ngay cả khi mở lớn mà loa nhỏ khó đạt được. Nhưng cái giá phải trả là độ khó thiết lập tăng lên rất nhiều. Và càng cố tối ưu hệ thống để vài bản thu mẫu nghe thật xuất sắc, hệ thống càng dễ mất đi sự tự nhiên với phần lớn album nghe hàng ngày. Cũng vì vậy mà không ít người sau một thời gian dài chơi ATC đã quyết định chuyển sang những hãng loa khác. Không phải vì ATC không hay, mà vì họ muốn một kiểu thưởng thức âm nhạc khác. Sau nhiều năm nghe một đôi loa quá trung thực và quá ít che giấu, có người bắt đầu muốn giọng hát dày và ngọt hơn, tiếng đàn mềm hơn, bản thu kém vẫn dễ nghe hơn, không phải cân chỉnh quá kỹ,mở nhạc lên là thư giãn ngay... Lúc đó họ có thể tìm đến những hãng loa giàu màu âm hơn, có độ mềm mại và xu nịnh hơn với bản thu. Và điều thú vị là nhiều người quay lại nghe các album cũ lại thấy dễ nghe hơn thật. Nhưng đồng thời, họ cũng thường nhận ra mình mất đi một vài thứ mà ATC từng làm rất đặc biệt: độ thật của giọng hát, sự chính xác của dải trung, khả năng theo dõi năng lượng bản thu và cảm giác âm nhạc được tái tạo một cách trung thực, không tô vẽ. Vì vậy, chơi ATC lâu năm thường giống một hành trình cân bằng giữa hai thứ: sự thật của âm thanh và sự dễ chịu khi thưởng thức. Có người cuối cùng chọn ở lại với ATC vì không muốn mất đi cảm giác chân thực ấy. Có người chuyển sang loa khác để tìm sự thư giãn và tính nhạc theo cách riêng của họ. Nhưng dù ở lại hay rời đi, đa số đều thừa nhận rằng ATC là một trong những hãng loa khiến người chơi hiểu sâu hơn về bản thu, về hệ thống và cả gu nghe thật sự của chính mình. Vài dòng chống nóng trong ngày cuối của giải ngoại hạng Anh 2025-2026 hầu các Cụ!
Các bài viết của bác rất hay, nghề nghiệp của bác chắc cũng liên quan đến viết lách. Chưa được trải nghiệm thực tế nhưng qua các bài viết tôi cũng cảm nhận được đoạn đường gian truân trong việc phối ghép với dòng loa ATC này và âm thanh của nó cũng kén người nghe.
Cảm ơn Cụ, Em tham khảo nhiều từ các Cụ trong box, không có các Cụ ấy chia sẻ thì Em còn mông lung lắm ạ.
Có một giai đoạn chơi âm thanh mà Em nghĩ rất nhiều Cụ rồi cũng sẽ gặp, đó là lúc bắt đầu hiểu rằng một hệ thống hay không còn nằm ở chuyện món nào đắt hơn, đời mới hơn hay nổi tiếng hơn, mà nằm ở việc mình hiểu thiết bị và phụ kiện trong hệ thống sâu đến đâu. Lúc mới chơi, phần lớn chúng ta thường nhìn hệ thống theo kiểu cộng cơ học, thiếu chi tiết thì đổi dây sáng hơn, thiếu lực thì thay ampli công suất lớn hơn, muốn nền âm sạch thì thêm lọc điện, muốn âm hình rõ thì thay chân kê, mỗi lần thay đổi đều nghe thấy sự khác biệt nên rất dễ nghĩ rằng cứ nâng cấp liên tục là hệ thống sẽ tiến lên. Nhưng chơi càng lâu càng nhận ra một điều rất quan trọng, nghe khác chưa chắc đã là nghe đúng. Có những thay đổi làm tiếng trở nên nổi bật hơn, sáng hơn, chi tiết hơn ngay lập tức nhưng sau vài ngày lại bắt đầu thấy mệt, thấy thiếu tự nhiên và không còn muốn ngồi nghe lâu, ngược lại có những thay đổi ban đầu nghe tưởng bình thường, thậm chí không quá ấn tượng nhưng càng nghe lâu càng thấy nhạc tự nhiên, dễ chịu và có cảm giác giống biểu diễn thật hơn. Đó là lúc bắt đầu hiểu rằng một hệ thống âm thanh không phải là tập hợp của nhiều món đồ tốt đứng cạnh nhau mà là sự tương tác rất phức tạp giữa tính cách của từng thiết bị. Ví dụ rất rõ với loa ATC, đây là dòng loa có trung âm cực kỳ thật, độ động mạnh, khả năng tái tạo năng lượng nhạc cụ rất trực diện và giữ được độ ổn định khi chơi lớn, nhưng chính vì trung thực và ít màu mè nên ATC cũng bộc lộ rất rõ mọi thay đổi phía trước nó. Nếu ghép với dây nguồn thiên sáng và tốc độ cao, nguồn điện bị nhiễu nhưng cố siết bằng lọc mạnh, ampli thiên phân tích hoặc dây tín hiệu làm nổi cạnh âm thì tiếng sẽ rất dễ chuyển sang trạng thái trung âm khô, dải cao căng, tiếng cymbal sắc, giọng hát gằn cứng, âm hình nét nhưng mỏng, nghe chi tiết lúc đầu nhưng càng nghe càng mệt. Ngược lại, nếu cố làm mềm ATC bằng các phụ kiện quá dày tiếng, quá tối hoặc làm chậm tốc độ đáp ứng thì hệ thống lại mất đi thứ quý nhất của ATC là độ sống động và năng lượng thật của âm nhạc, tiếng vocal có thể trở nên ngọt hơn nhưng mất độ nhả chữ tự nhiên, tiếng bass có vẻ dày hơn nhưng chậm và thiếu lực bật, không gian có thể mượt hơn nhưng thiếu cảm giác sân khấu thật. Cho nên hiểu thiết bị không phải là thuộc thông số kỹ thuật hay đọc thật nhiều bài quảng cáo mà quan trọng hơn là hiểu thiết bị đó sinh ra với triết lý âm thanh gì, điểm mạnh thật sự nằm ở đâu, điểm yếu nào cần tiết chế và nó cần môi trường như thế nào để phát huy đúng bản chất. Khi bắt đầu hiểu tới mức đó thì cách phối ghép cũng thay đổi hoàn toàn, người chơi sẽ không còn nghĩ sợi dây này đắt hơn nên chắc chắn hay hơn mà sẽ nghĩ hệ thống hiện tại đang dư năng lượng dải cao hay thiếu độ mở không gian, thiếu độ tĩnh nền hay thiếu mật độ trung âm và món đồ này sẽ kéo cân bằng âm thanh đi theo hướng nào. Đó là lý do tồn tại những chuyện mà người mới chơi rất khó hiểu, cùng một sợi dây, ở hệ thống này nghe mở, sâu và tự nhiên nhưng sang hệ thống khác lại bí, khô hoặc giả, không phải sợi dây tự nhiên dở đi mà vì mối quan hệ giữa các thiết bị đã thay đổi. Thực tế trong một hệ thống audio, gần như mọi thứ đều có tính cách riêng, dây nguồn ảnh hưởng đến tốc độ, độ động và nền âm, dây tín hiệu ảnh hưởng đến mật độ âm hình và sắc thái trung âm, dây số ảnh hưởng đến độ mượt, độ tĩnh và cấu trúc không gian, ổ điện ảnh hưởng đến độ ổn định năng lượng, lọc nguồn ảnh hưởng đến nền sạch và độ thoáng, chân kê ảnh hưởng đến độ rung cơ học và độ nét âm hình, thậm chí cả nguồn cấp cho thiết bị số cũng ảnh hưởng đến độ tự nhiên của âm thanh. Chơi lâu rồi mới thấy phối ghép thực ra không còn là chuyện cộng thêm thiết bị mà là quản trị tính cách của toàn bộ hệ thống. Các Cụ chơi lâu năm thường sẽ đi tới một hướng rất giống nhau, giảm bớt can thiệp, bỏ bớt những món tạo hiệu ứng mạnh nhưng làm âm thanh mất tự nhiên, ưu tiên sự đồng nhất và cố giữ cho tín hiệu đi qua ít bị biến dạng tính cách nhất có thể. Đó cũng là lý do nhiều hệ thống càng chơi lâu lại càng đơn giản, ít hộp hơn, ít dây hơn, ít xử lý hơn nhưng nghe lại trưởng thành và tự nhiên hơn rất nhiều, bởi vì muốn bỏ bớt mà vẫn hay hơn là việc cực kỳ khó, nó đòi hỏi người chơi phải hiểu rất rõ từng mắt xích đang thực sự làm gì trong hệ thống của mình. Và Em nghĩ đó cũng là lúc một người bắt đầu chuyển từ giai đoạn mua thiết bị sang giai đoạn thật sự chơi âm thanh. Vài dòng đêm khuya, khó ngủ vì nóng
Với nhiều người chơi ATC, SCM-100 gần như là một đích đến vì đây là model hội tụ rất rõ cái tinh thần đặc trưng của ATC, trung âm lớn, thật và đầy năng lượng, độ động cực mạnh, khả năng giữ ổn định khi chơi lớn rất tốt và đặc biệt là cảm giác âm nhạc được đẩy ra với sự trực diện mà rất ít dòng loa có được. Em nghĩ bất kỳ ai đã thực sự yêu chất âm ATC rồi thì đều sẽ có lúc muốn sở hữu SCM-100. Bởi khi nghe một cặp SCM-100 được đánh đúng, người ta sẽ hiểu vì sao ATC lại có vị trí đặc biệt đến vậy trong thế giới audio. Nó không cố làm tiếng lung linh, không cố tạo cảm giác mềm mại kiểu màu mè, cũng không cố đẩy không gian ra quá rộng để gây choáng ngợp, nhưng đổi lại nó mang tới cảm giác nhạc cụ có năng lượng thật, vocal có thân hình thật và toàn bộ sân khấu có độ ổn định rất giống nghe trực tiếp. Nhưng nghịch lý của SCM-100 là càng yêu nó thì càng thấy nó khó chơi. Rất nhiều Cụ đi lên từ SCM-7, SCM-11, SCM-19 hay SCM-20 thường nghĩ rằng chỉ cần nâng cấp ampli mạnh hơn là sẽ kiểm soát được SCM-100, nhưng thực tế khi bước sang dòng loa này thì câu chuyện phối ghép đã khác hoàn toàn. SCM-100 không còn dễ như những đôi ATC nhỏ nữa. Những điểm chưa ổn của hệ thống bắt đầu hiện ra rất rõ. Nếu ghép chưa đúng, tiếng sẽ dễ bị nông, âm hình không thoát khỏi mặt loa, trung âm có cảm giác dày nhưng bí, bass nghe nhiều năng lượng nhưng không xuống sâu tự nhiên, thậm chí có hiện tượng tiếng thùng, tiếng khô và cảm giác nhạc bị đẩy ra theo kiểu cơ học chứ không phải tự nhiên. Đặc biệt SCM-100 rất dễ lộ ra tình trạng hệ thống có lực nhưng thiếu độ thở. Lúc đó tiếng nghe có vẻ mạnh, chắc và đầy nhưng sân khấu không mở ra được, nhạc cụ thiếu khoảng không, vocal đứng lì giữa loa và càng nghe càng thấy mệt. Đó là lý do nhiều người lần đầu chơi SCM-100 thường có cảm giác hơi hụt hẫng, bởi kỳ vọng quá lớn nhưng hệ thống thực tế lại chưa đủ khả năng khai thác được đôi loa này. Em cũng từng nghe SCM-100 ghép với những hệ thống rất đẳng cấp từ Thuỵ Sỹ như FM Acoustics. Phải thừa nhận rằng chất âm đạt tới trình độ cực kỳ cao cấp, tiếng dày, mượt, truyền cảm, nền âm tĩnh, không gian rất sạch, chi tiết lên đầy đủ nhưng vẫn tự nhiên và đặc biệt là vocal đẹp theo kiểu sang trọng, tinh tế, nghe gần như không có điểm gì để chê. Nhưng nghe lâu Em lại có cảm giác dường như cái chất rất riêng của ATC bị giảm đi khá nhiều. Cái sự trực diện hơi gai góc nhưng đầy năng lượng, cái cảm giác nhạc cụ bật ra mạnh mẽ, cái độ sống và tính studio rất đặc trưng của ATC dường như được làm mềm đi để đổi lấy sự bóng bẩy và hoàn hảo kiểu hi-end. Hệ thống lúc đó rất hay, thậm chí cực hay, nhưng nếu nhắm mắt nghe đôi khi lại không còn cảm giác đây là ATC rõ rệt nữa. Và có lẽ đó cũng là điều khiến hành trình chơi SCM-100 trở nên vừa hấp dẫn vừa đau khổ. Sau một quá trình rất dài loay hoay setup cặp loa này, thay đổi thiết bị, đổi dây, chỉnh vị trí loa từng chút một, thử đủ kiểu nguồn điện, lọc điện và phối ghép khác nhau, Em mới bắt đầu hiểu rằng SCM-100 là đôi loa cực kỳ nhạy cảm với toàn bộ hệ thống phía trước nó. Hihi. Nó nhạy với vị trí kê loa, chỉ cần dịch vài centimet đã có thể thay đổi độ mở sân khấu và độ dày trung âm. Nó nhạy với khoảng cách tường sau, nhạy với độ toe-in, nhạy với mặt sàn và độ rung cơ học. Nó cũng nhạy với từng món phụ kiện nhỏ trong hệ thống, từ dây nguồn, dây tín hiệu, dây số cho tới ổ điện hay chân kê thiết bị. Quan trọng hơn, SCM-100 khiến người chơi buộc phải hiểu rất rõ từng thiết bị trong hệ thống của mình đang thực sự làm gì. Một sợi dây không chỉ còn là sáng hay tối mà là nó đang tác động vào tốc độ đáp ứng, độ bật động năng, độ tĩnh nền hay cấu trúc không gian. Một bộ lọc nguồn không chỉ còn là sạch hay bẩn mà là nó đang giữ lại độ sống của âm nhạc hay đang vô tình làm hệ thống mất độ thở. Và chỉ sau khi trải qua đủ những lần thất vọng, những lần nghe tiếng bị khô, bị bí, bị nông, bị tiếng thùng hay mất tự nhiên thì Em mới bắt đầu cảm thấy mình có những bước đầu tiên tương đối thành công với SCM-100. Điều khó nhất không phải làm cho đôi loa này trở nên mượt hay bóng bẩy, mà là làm sao để nó vẫn giữ được cái chất rất riêng của ATC, vẫn còn độ gai góc đặc trưng, vẫn còn lực đánh đầy năng lượng, vẫn còn cảm giác nhạc cụ được đẩy ra mạnh mẽ và trực diện, nhưng đồng thời phải mở hơn, tự nhiên hơn và nghe được lâu hơn. Khi bắt đầu tiến gần tới trạng thái đó mới thấy SCM-100 thực sự là một đôi loa rất đặc biệt. Nó không chiều người chơi, không dễ dàng cho cảm giác hay ngay lập tức, nhưng nếu đi đúng hướng thì thứ nó mang lại là cảm giác âm nhạc sống động, chân thực và đầy năng lượng theo cách rất khó thay thế. Và Em nghĩ chính sự khó tính đó cũng là lý do khiến SCM-100 luôn là đôi loa vừa đáng mơ ước vừa đầy thử thách với những người thực sự yêu ATC. Vài dòng trong đêm nóng nực
Xin cảm ơn Cụ doanhnhan2000, cũng vì thời tiết nóng quá nên phải giải phóng năng lượng trong lúc nông nhàn. Hihi Xin hầu các Cụ trải nghiệm về loa ATC SCM-16A PRO. Em từng nghĩ loa active là con đường đơn giản nhất để chơi audio, đặc biệt với ATC active như SCM-16A Pro. Loa đã tích hợp sẵn ampli, phân tần chủ động được hãng tối ưu từ đầu, người chơi không còn phải đau đầu chuyện chọn power amp, phối ghép công suất hay kiểm soát loa như các dòng passive nữa. Nhìn trên lý thuyết thì đúng là quá nhẹ nhàng, chỉ cần nguồn phát, DAC, preamp rồi cắm balanced vào loa là chơi. Nhưng sau một thời gian sống cùng ATC active, Em mới thấy cái khó của nó lại nằm ở chính sự đơn giản đó. Với loa passive, nếu hệ thống có vấn đề thì người chơi còn rất nhiều cách xử lý, đổi power amp, đổi dây loa, thay preamp, thay cách đánh để cân bằng lại chất âm. Nhưng với ATC active như SCM-16A Pro, gần như phần quan trọng nhất đã được hãng “đóng đinh” sẵn bên trong loa rồi. Người chơi không còn nhiều khoảng để can thiệp nữa. Và khi không còn nhiều lựa chọn thì từng món đồ còn lại trong hệ thống lại phải match với nhau gần như tuyệt đối. Lúc đó nguồn phát trở nên cực kỳ quan trọng. CD transport, music server hay streamer không còn đơn thuần là nơi đọc dữ liệu mà gần như quyết định trực tiếp tới độ sạch của nền âm, độ ổn định của sân khấu và cảm giác liền lạc của toàn hệ thống. SCM-16A Pro lộ ra sự khác biệt giữa từng nguồn âm rất rõ. Có những nguồn phát cho cảm giác sân khấu lớn và nhiều chi tiết nhưng tiếng nhạc cụ bị tách rời, thiếu liên kết và thiếu cảm xúc. Có những nguồn lại tạo được độ mượt nhưng làm mất tốc độ chuyển trạng thái của âm thanh, tiếng bass chậm lại và toàn hệ thống nghe thiếu sinh khí. Em nhận ra SCM-16A Pro đặc biệt hợp với những nguồn phát có nền âm tĩnh, thời gian xử lý tín hiệu ổn định và âm thanh có độ liền lạc tự nhiên. Khi nguồn âm đạt đúng trạng thái đó, vocal sẽ đứng vững trong không gian, nhạc cụ có độ tập trung cao và tiếng nền phía sau trở nên rất sâu, tạo cảm giác sân khấu không bị ép giữa hai loa mà mở ra thành một khối thống nhất. DAC cũng là một mắt xích cực kỳ nhạy cảm. Có những DAC khi nghe riêng lẻ cho cảm giác rất sạch, rất sắc nét và rất hiện đại nhưng ghép với SCM-16A Pro lại làm trung âm trở nên khô cứng, tiếng hi-hat và cymbal nổi cạnh quá mức, nghe vài bản đầu có thể thấy ấn tượng nhưng càng nghe lâu càng mệt. Ngược lại cũng có những DAC thiên mềm, tạo độ dày và độ mượt rất dễ nghe nhưng lại vô tình làm mất đi khả năng chuyển động cực nhanh và độ bật năng lượng vốn là thế mạnh của ATC active. Điều khó nhất là tìm được DAC vừa giữ được độ chính xác về thời gian, độ tĩnh và độ sạch của nền âm nhưng vẫn phải còn sự mềm mại tự nhiên trong trung âm và độ thoát của không gian. Khi ghép đúng, SCM-16A Pro cho cảm giác nhạc cụ có vị trí rõ ràng, đứng ổn định và có độ hiện diện rất thật trong phòng nghe. Dây balanced cũng ảnh hưởng nhiều hơn Em tưởng rất nhiều. Vì ATC active bỏ qua hoàn toàn đoạn power amp và dây loa nên toàn bộ tính cách tín hiệu gần như dồn hết vào đoạn balanced từ DAC hoặc preamp tới loa. Chỉ cần thay đổi dây balanced là cảm giác tốc độ, mật độ âm và độ mở đã khác đi rất rõ. Có dây balanced cho cảm giác nền âm sạch và chi tiết nổi rõ nhưng tiếng vocal mỏng đi, thiếu độ đầy đặn của lồng ngực và nghe hơi lạnh. Có dây lại làm tiếng dày hơn, vocal đẹp hơn nhưng bass bị mềm và mất độ kiểm soát. Có dây mở rộng sân khấu rất tốt nhưng làm nhạc cụ thiếu độ tập trung, vị trí bị loãng và thiếu độ chắc hình. Sau rất nhiều thử nghiệm Em mới thấy với SCM-16A Pro, dây balanced không nên cố tạo hiệu ứng quá mạnh mà cần ưu tiên độ cân bằng, độ ổn định và khả năng giữ được năng lượng tự nhiên của tín hiệu. Rồi tới chân loa và chống rung, đây là thứ rất nhiều người xem nhẹ khi chơi loa active nhưng thực tế lại ảnh hưởng cực lớn tới SCM-16A Pro, đặc biệt vì thùng loa bằng nhôm. Ưu điểm của thùng nhôm là độ cứng cực cao, khả năng kiểm soát rung rất tốt, giúp tiếng bass gọn, tốc độ nhanh và độ nét của âm hình rất cao. Các cạnh âm được dựng lên rõ ràng, tiếng bass có độ dứt khoát và toàn bộ hệ thống cho cảm giác rất sạch sẽ, chính xác. Nhưng mặt trái của thùng nhôm là nó cũng truyền rung rất nhanh và bộc lộ gần như toàn bộ vấn đề cơ học của hệ thống. Nếu chân loa không phù hợp hoặc chống rung chưa đúng hướng thì tiếng sẽ rất dễ bị cứng, âm hình sắc cạnh quá mức, trung âm thiếu độ thư giãn và nghe có cảm giác lạnh. SCM-16A Pro đặc biệt nhạy với cách thoát rung xuống sàn. Có những kiểu chân làm tiếng rất chắc và tập trung nhưng sân khấu bị co lại. Có kiểu lại mở không gian tốt nhưng bass thiếu lực bám. Ngay cả vật liệu chống rung dưới thiết bị nguồn phát hay DAC cũng tác động rõ rệt tới độ ổn định của sân khấu và độ mịn của nền âm. Cầu chì cũng là thứ Em từng nghĩ ảnh hưởng rất nhỏ, nhưng với ATC active thì khác biệt vẫn nghe ra khá rõ. Có loại cầu chì làm tiếng sáng hơn, độ chi tiết tăng lên nhưng đồng thời dải cao trở nên căng và thiếu tự nhiên. Có loại lại cho cảm giác âm dày và dễ nghe hơn nhưng làm toàn hệ thống chậm đi, mất độ linh hoạt và giảm cảm giác chuyển động của âm nhạc. Sau rất nhiều thay đổi, điều Em nhận ra là SCM-16A Pro không hợp với kiểu phối ghép tạo hiệu ứng mạnh. Mỗi món đồ chỉ cần kéo hệ thống lệch đi một chút là tổng thể sẽ mất cân bằng rất nhanh. Điều thú vị là ATC active có khả năng cho người nghe cảm giác rất thật. Khi phối ghép chưa chuẩn, hệ thống sẽ không che giấu mà lộ ra ngay, âm thanh thiếu chiều sâu, lớp lang bị dính vào nhau, vocal đứng không vững và nhạc cụ nghe giống tái tạo cơ học hơn là biểu diễn thật. Nhưng khi mọi thứ bắt đầu ăn khớp, hệ thống lại tạo ra cảm giác rất đặc biệt, tiếng trống có lực nén và độ bật rõ ràng, vocal có độ tập trung cao, nhạc cụ giữ được hình khối ổn định kể cả khi mở lớn và toàn bộ sân khấu có cảm giác chuyển động rất sống. Nhiều lần Em cũng tự hỏi liệu ATC active có thể hay bằng một hệ thống passive được phối ghép thật tốt hay không, ví dụ như SCM-20PSL Pro đi cùng một power amp hợp chất, nguồn điện tốt và phối ghép đủ sâu. Và thực tế phải thừa nhận rằng một hệ thống passive ATC được setup cực chuẩn vẫn có cái hay rất riêng. Nó có cảm giác thoáng hơn, dễ tạo độ bay, dễ chỉnh theo gu người nghe và đôi khi cho cảm giác sân khấu rộng mở hơn. Một cặp SCM-20PSL Pro phối ghép đúng có thể tạo ra chất âm rất trưởng thành, vừa giữ được độ thật của ATC vừa có thêm sự mềm mại và tinh tế mà nhiều người thích. Nhưng đổi lại, để đạt tới mức đó là cả một hành trình rất dài và cực kỳ tốn công sức. Người chơi phải hiểu ampli, hiểu dây loa, hiểu phối ghép công suất, hiểu kiểm soát bass và vô số thứ khác. Trong khi đó, cái hay của ATC active là khi đã tìm được đúng nguồn phát, đúng DAC, đúng preamp và đúng hướng phối ghép thì hệ thống cho cảm giác rất đồng nhất. Cái sự liền lạc từ bass lên trung âm rồi dải cao, cái độ chính xác về thời gian và năng lượng của nhạc cụ khiến người nghe có cảm giác mọi thứ đi ra từ một khối thống nhất chứ không phải nhiều thiết bị ghép lại. Sau rất nhiều lần thay đổi, thử nghiệm và cả thất vọng, cuối cùng Em cũng bắt đầu cảm thấy mình có được sự thành công bước đầu với ATC active nói chung và SCM-16A Pro nói riêng. Điều làm Em hài lòng nhất không phải là hệ thống trở nên mềm mại hay bóng bẩy kiểu hi-end mà là nó vẫn giữ được đúng chất ATC, vẫn còn độ rắn và lực đặc trưng của monitor studio, vẫn còn cảm giác nhạc cụ được giải phóng năng lượng rất trực tiếp, nhưng đồng thời sân khấu đã sâu hơn, lớp lang tách bạch hơn và vocal có được sự tự nhiên để nghe hàng giờ mà không bị căng thẳng. Và càng chơi Em càng thấy ATC active không phải con đường đơn giản dành cho người lười phối ghép như nhiều người nghĩ. Nó chỉ là một con đường khác, ít lựa chọn hơn nhưng đòi hỏi độ chính xác trong phối ghép còn cao hơn rất nhiều. P/s: Em được biết hiện có nhiều Cụ chơi ATC lắm nhưng không tham gia 4rum và box này, mong các Cụ ấy quan tâm đóng góp thêm cho chúng ta chứ Em sắp hết vốn rồi ạ. Hihi
Cảm ơn Cụ Với ATC SCM-100, theo Em, nếu muốn đôi loa này bắt đầu đúng, nghe ra được sân khấu, độ mở và năng lượng tự nhiên của nó thì diện tích tối thiểu hợp lý thường khoảng 25–30m², với điều kiện phòng có chiều sâu tương đối ổn. Nhưng đó mới chỉ là mức “chơi được”. Để SCM-100 thực sự phát huy độ mở sân khấu, độ lớn trung âm, độ thoát bass và cảm giác nhạc cụ có không khí xung quanh thì phòng đẹp thường từ khoảng 35–50m² trở lên. Điểm quan trọng không chỉ là diện tích mà còn là chiều sâu phòng, độ đối xứng, trần cao hay thấp,m và khả năng đặt loa cách tường sau đủ xa. SCM-100 rất cần không gian phía sau loa để trung âm và bass bung ra tự nhiên. Nếu kê quá sát tường tiếng dễ bị dồn, trung âm dày nhưng bí, bass tích năng lượng vùng upper bass, sân khấu nông và dễ xuất hiện cảm giác loa đang cố đẩy âm ra”l. Đây cũng là lý do nhiều người nghe SCM-100 ở showroom hoặc phòng nhỏ thấy tiếng lực, chắc, rất ấn tượng ban đầu, nhưng nghe lâu lại thấy bí, thiếu thoáng, nhạc cụ không thoát. Theo trải nghiệm của Em, SCM-100 thường bắt đầu dễ chơi hơn khi khoảng cách hai loa khoảng 3-3,5m, vị trí ngồi cách loa khoảng 3–4m và phía sau loa có ít nhất khoảng 80cm–1.5m không gian. Nếu phòng dưới khoảng 20m² thì vẫn có thể chơi được, nhưng sẽ rất khó khai thác đúng chất của đôi loa này. Lúc đó người chơi thường phải kiểm soát bass nhiều, giảm âm mạnh, kê loa sát giới hạn và hệ thống dễ chuyển sang kiểu năng lượng bị nén trong phòng. Thực tế Em thấy nhiều trường hợp một cặp SCM-20 hoặc SCM-50 đặt đúng phòng lại cho cảm giác cân bằng và dễ nghe hơn SCM-100 bị nhốt trong không gian nhỏ. SCM-100 là kiểu loa mà khi có đủ không gian, nó không chỉ chơi lớn hơn mà còn chơi thoải mái hơn. Nhạc cụ có độ giãn tự nhiên, vocal đứng tách khỏi loa rõ hơn và toàn bộ sân khấu có cảm giác ít bị ép năng lượng lại.
Sau một thời gian khá dài loay hoay với đủ kiểu phối ghép cho cặp ATC SCM20PSL, từ thay ampli công suất, thay pre, đổi dây tín hiệu cho tới thay cả nguồn phát, cuối cùng Em cũng tạm xem như đã tìm được một cấu hình khiến mình cảm thấy tương đối hài lòng. Không dám nói là đã khai thác hết khả năng của đôi loa này vì Em nghĩ ATC là kiểu loa càng chơi lâu càng thấy mình còn thiếu, nhưng ít nhất hiện tại Em đã hiểu rõ hơn vì sao SCM20PSL lại vừa được yêu thích, vừa khiến nhiều người chơi nản lòng đến vậy. SCM20PSL là cặp loa làm em thay đổi khá nhiều suy nghĩ về chuyện phối ghép. Trước đây em từng nghĩ chỉ cần ampli có công suất đủ lớn thì sẽ kéo được loa khó. Nhưng sau một thời gian chơi ATC, Em nhận ra công suất chỉ là một phần rất nhỏ. Điều quan trọng hơn nhiều là khả năng cấp dòng, độ ổn định của bộ nguồn và khả năng kiểm soát màng loa của ampli. Có những ampli nhìn thông số rất đẹp, công suất lớn nhưng ghép với SCM20 vẫn cho cảm giác tiếng bị căng, bass chậm, âm hình không mở. Trong khi có những ampli công suất không quá lớn nhưng nguồn khỏe và kiểm soát tốt thì đôi loa lại chơi nhạc nhẹ nhàng, tự nhiên hơn hẳn. Bản thân SCM20PSL cũng là một thiết kế rất đặc biệt. Đây là loa thùng kín, thùng được hoàn thiện dạng phủ nhám hoặc veneer đơn giản, mặt trước khá hẹp và chắc, giúp định vị âm hình tốt, tỷ lệ thùng rất tối ưu cho kiểm âm gần và trung, độ nặng của thùng lớn hơn vẻ ngoài khá nhiều, cầm trực tiếp mới thấy độ đặc và độ lì. Thùng làm bằng gỗ ép mật độ cao khá dày, cứng và được làm theo hướng triệt rung chứ không cộng hưởng để tạo màu âm, kiểu như ATC muốn thùng càng im lặng càng tốt ấy ạ; dùng củ loa mid/bass Super Linear nổi tiếng của ATC (theo tài liệu kỹ thuật từ ATC, từ khi phát minh ra loa điện động, các kỹ sư luôn phải đối mặt với một vấn đề tính phi tuyến của thép trong mạch từ do hiệu ứng từ trễ (magnetic hysteresis) gây ra. Nói nôm na là khi cuộn dây dao động, vật liệu từ không phản hồi một cách tuyến tính với dòng điện, tạo ra méo tín hiệu và gây màu cho âm thanh. ATC đã phát triển một giải pháp là thêm các vòng đệm làm từ vật liệu đặc biệt (Super Linear Magnetic Material) vào hai vị trí quan trọng trong mạch từ: phần lõi trung tâm (pole piece) và tấm trước (front plate), sát ngay với cuộc dây. Tác dụng của các vòng SLMM này đax giảm méo hài bậc 3 từ 10-15dB trong dải tần 100Hz - 3kHz. Các bác tưởng tượng, mức giảm méo ở mức này đồng nghĩa với việc lộ ra những âm thanh nền, các sắc thái nhỏ trước đây bị che khuất bởi méo thì giờ đây hiện ra rõ hơn. Chính vì vậy, ATC tự tin tuyên bố rằng công nghệ SL không chỉ giảm méo đơn thuần, mà còn mang đến một sự cải thiện đột phá về chất lượng âm thanh, đặc biệt là khả năng tái tạo giọng hát và âm thanh piano một cách chân thực); phân tần của nó không có những bảng linh kiện to đùng hay dùng linh kiện đắt tiền, đặc biệt là cách xử lý vùng giao thoa giữa midbass và tweeter theo hướng kiểm soát pha và độ liền dải, tweeter dome mềm 25mm của ATC được thiết kế với motor lực từ lớn và cuộn dây kích thước lớn cho phép làm việc ổn định ở dải tần thấp hơn thông thường trong khi vẫn giữ được khả năng kiểm soát biến dạng khi chiuj tải, điểm cắt tần trong hệ SCM20 thường nằm trong vùng khoảng 2,1–3 kHz tùy phiên bản (SCM-20PSL PRO MK2 là 2.1kHz) và cấu hình bộ lọc, kết hợp với độ dốc lọc bậc cao nhằm giảm tối đa vùng chồng lấn năng lượng giữa hai củ loa giúp duy trì tính liên tục về pha và năng lượng trong vùng trung cao, hạn chế hiện tượng phân mảnh âm hình vốn dễ xuất hiện khi chuyển tiếp giữa midbass và tweeter không đủ kiểm soát. Chính kiểu thiết kế này khiến SCM20 có khả năng tái tạo dải trung và dải trầm rất khác nhiều loa bookshelf thông thường. Khi ampli chưa đủ khả năng kiểm soát thì bass nghe khá khô và thiếu độ mở. Nhưng khi đánh đúng, cặp loa này cho tiếng trầm xuống rất sâu, chắc, có độ nén tốt và đặc biệt là không bị kéo đuôi. Điểm mà Em thích nhất ở SCM20 vẫn là dải trung. Em từng nghe khá nhiều loa có chất giọng ngọt hoặc mềm hơn, nhưng rất ít loa cho cảm giác giọng hát chân thực như ATC. Những bản thu tốt nghe qua SCM20 có thể cảm nhận được rõ độ dày của giọng, hơi lấy hơi của ca sĩ, vị trí đứng trong không gian và cả độ rung rất nhỏ ở cuối câu hát. Trước đây Em từng dùng nhiều pre-power ghéo với cặp 20 và gần đây là pre Audio Illusions M3A ghép với power Son of Ampzilla 2 để kéo SCM20PSL. Thật ra đây không phải cấu hình tệ. Khi nghe jazz, vocal hay rock nhẹ thì hệ thống vẫn cho cảm giác khá cuốn hút. Pre M3A có chất âm giàu cảm xúc, nhiều chi tiết và rất hợp với vocal. Son of Ampzilla 2 cũng có lực kéo tương đối tốt. Nhưng nghe lâu Em bắt đầu cảm thấy hệ thống luôn có chút gì đó chưa thoải mái; dải trầm đánh nhanh nhưng chưa xuống được hết, những đoạn nhạc giao hưởng lớn hoặc tiếng contrabass liên tục bắt đầu xuất hiện cảm giác hụt hơi và thiếu kiểm soát; dải trung đôi lúc hơi căng; còn dải cao khi mở âm lượng lớn thì hơi gắt; cảm giác giống như hệ thống luôn phải cố gắng để giữ đôi loa trong tầm kiểm soát chứ chưa thật sự nhẹ nhàng. Trong giai đoạn đó em cũng thay khá nhiều dây nguồn với hy vọng cải thiện thêm độ kiểm soát và độ tĩnh của hệ thống. Sau này đọc thêm các thảo luận của người chơi ATC trên các diễn đàn nước ngoài thì em thấy khá nhiều người có trải nghiệm giống mình. Phần lớn người chơi ATC lâu năm không quá chạy theo dây nguồn đắt tiền hay kiểu thay dây là thay đổi cả hệ thống. Họ thường tập trung vào ampli, nguồn điện tổng thể và khả năng kiểm soát loa nhiều hơn. Em từng thử vài loại dây thiên sáng và tăng cảm giác chi tiết thì kết quả là hệ thống nghe mệt hơn khá nhanh. Dải cao trở nên căng, trung âm mỏng đi và tiếng bass mất độ tự nhiên. Ngược lại, những dây nguồn tiết diện lớn, nền âm sạch, thiên trung tính và cấp dòng tốt lại hợp với SCM20 hơn nhiều. Nó không tạo hiệu ứng nghe ngay lập tức nhưng giúp tiếng ổn định hơn, nền tĩnh hơn và đặc biệt là tiếng bass có lực hơn mà không bị cứng. Em thấy khá thú vị là nhiều người chơi ATC trên thế giới lại dùng những loại dây rất thực dụng như Belden, Supra, Gotham hay dây tự làm tiết diện lớn thay vì các loại dây nguồn quá đắt và quá màu âm, sau này Em cũng dần hiểu lý do. Sau khá nhiều lần thay đổi, cuối cùng Em chuyển sang dùng CDA2 và power P1 của ATC. Điều làm Em bất ngờ nhất không phải là tiếng nhiều bass hơn hay chi tiết hơn mà là cảm giác toàn bộ hệ thống trở nên ổn định và tự nhiên hơn. P1 kiểm soát SCM20 dễ dàng, tiếng bass xuống sâu hơn nhưng đồng thời lại gọn và rõ hơn trước; những đoạn trống dồn hoặc tiếng bass điện không còn cảm giác màng loa bị đuối hay chậm nữa; moij thứ có độ tách bạch và trật tự hơn rất rõ. Dải trung cũng thay đổi khá nhiều, giọng hát rõ hình thể hơn và đặc biệt là độ ngân tự nhiên hơn hẳn. Tiếng guitar thùng hay piano có thêm cảm giác không gian và đôj vang của nhạc cụ thật chứ không chỉ là âm thanh phát ra từ loa. Em nghĩ điểm mạnh nhất của cấu hình này là cảm giác nghe thoải mái, cảm giác cân bằng, tự nhiên và nghe lâu không mệt. Sau trải nghiệm này Em cũng hiểu vì sao rất nhiều người chơi ATC lâu năm thường ít nói về chuyện thay dây hay tinh chỉnh lặt vặt, mà tập trung gần như toàn bộ vào phần khuếch đại và nguồn điện. Với SCM20, một ampli có nguồn khỏe, cấp dòng tốt và giữ được màng loa trong kiểm soát ở mọi mức âm lượng sẽ quan trọng hơn rất nhiều so với một ampli công suất lớn nhưng thiếu độ ổn định. Dây nguồn hay dây tín hiệu vẫn có ảnh hưởng, nhưng chúng chỉ thực sự phát huy khi nền móng của hệ thống đã đủ vững. Nếu phần khuếch đại còn chưa kiểm soát nổi loa thì thay dây nhiều khi chỉ là thay đổi màu sắc chứ không giải quyết được bản chất. Các Cụ đang chơi SCM20, SCM19 hay các dòng ATC khác nếu có kinh nghiệm phối ghép thì chia sẻ thêm để anh em tham khảo với ạ (đặc biệt là Cụ Hòa bạc - nick BDF ạ). Em thấy chơi ATC thú vị nhất vẫn là chuyện mỗi người ghép ra một kiểu tiếng khác nhau, nhưng cuối cùng đều phải đi tìm sự kiểm soát và tự nhiên của âm nhạc.
Biến áp nguồn tối thiểu khoảng 700–1000VA cho một power stereo là mức bắt đầu “đánh ổn” SCM20. Muốn kiểm soát tốt hơn, nhiều ampli hợp với ATC thường dùng nguồn 1.2kVA – 2kVA anh. P1 đâu đó tầm 1k VA
Cực kỳ chuẩn, để P1 ghép SCM-20 được thì cần cho "ăn ngon, thuốc bổ" chứ nếu để nguyên thì hơi đuối, kể ra nó thêm chút cỡ 1,5kVA thì ngon luôn.
Em từng nghĩ SCM-16A Pro còn cách SCM-20PSL Pro Mk2 khá xa. Suy nghĩ đó cũng dễ hiểu thôi, một bên là mẫu loa nhỏ hơn, dùng củ bass 6 inch. Một bên là dòng 20 huyền thoại của ATC với củ bass 7 inch Super Linear, thùng loa lớn hơn và danh tiếng đã được khẳng định suốt nhiều năm. Trên lý thuyết, Em từng hình dung SCM-20PSL Pro Mk2 sẽ vượt trội hoàn toàn. Nhưng khi nghe kỹ và sống cùng cả hai, Em mới thấy câu chuyện thực tế thú vị hơn nhiều. SCM-20PSL Pro Mk2 đúng là hay hơn, nhưng SCM-16A Pro lại cũng hay hơn rất nhiều so với những gì Em từng nghĩ. SCM-16A Pro sở hữu trung âm dày dặn, giàu năng lượng, giọng hát có độ thật và sức sống, các nhạc cụ được tái hiện với độ chính xác cao nhưng không khô cứng. Quan trọng hơn, nó có khả năng kéo người nghe vào âm nhạc rất nhanh. Đó là lý do vì sao càng nghe, em càng nể đôi loa này. Tuy nhiên, SCM-20PSL Pro Mk2 vẫn hơn một bậc nhưng khoảng cách không phải kiểu một trời một vực. Điều SCM-20PSL Pro Mk2 làm tốt hơn không nằm ở việc phô diễn chi tiết, nó nằm ở cảm giác quy mô, âm hình lớn hơn, ko gian thoáng hơn, nhạc cụ có kích thước thật hơn, mọi thứ hiện diện dễ dàng và tự nhiên hơn. Đặc biệt là khi nghe những bản thu tốt, SCM-20PSL Pro Mk2 tạo cảm giác sân khấu âm nhạc mở ra phía trước người nghe thay vì chỉ gói gọn giữa hai thùng loa, tiếng nhạc thoát ra nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn và có cảm giác trưởng thành hơn. Điều thú vị là càng nâng cấp hệ thống xung quanh, Em càng thấy SCM-16A Pro hay hơn rất nhiều sau mỗi lần nâng cấp nhưng SCM-20PSL Pro Mk2 cũng tiến lên tương ứng, khoảng cách không mất đi mà nó chỉ hiện ra rõ ràng hơn. So sánh 2 em
Cụ nào chưa có loa thì nghiên cứu cặp 12 đời cũ và kể cả cặp pow pure class A này đê, chủ quan Em cho là hay https://www.facebook.com/share/v/1BZc7ZSrQZ/?mibextid=wwXIfr
Có những bộ dàn mà chỉ cần bật lên vài phút là người nghe đã thấy choáng ngợp, bass nhiều, sân khấu rộng, chi tiết dày đặc, nhưng cũng có những hệ thống không hề tạo ra cảm giác đó, chúng không cố gây ấn tượng ngay từ đầu mà chinh phục người nghe theo một cách chậm rãi hơn. Bộ gồm loa ATC SCM-7 V3, amp Goldmund Metis 5, dac Chord Qutest và nguồn Eversolo A8 của Em thuộc về nhóm thứ hai. Trước khi ghép bộ này, Em cũng có không ít băn khoăn. SCM-7 V3 vốn là đôi loa nhỏ nhất trong dòng loa nghe nhạc thụ động của ATC, Goldmund lại với chất âm thiên về sự chính xác và kiểm soát, còn Qutest cũng không phải mẫu DAC được biết đến bởi sự màu mè hay ngọt ngào. Nhìn trên lý thuyết, đây không phải công thức dành cho những ai thích âm thanh đậm đà, nịnh tai hay giàu hiệu ứng. Ban đầu, cảm giác của Em thậm chí còn hơi hụt hẫng, mọi thứ đều đúng, đều sạch sẽ, đều gọn gàng nhưng lại không có thứ gì nhảy ra khỏi bản nhạc để thu hút sự chú ý; không có tiếng bass đầy phòng, không có giọng hát được đẩy lên phía trước, không có những âm cao lấp lánh khiến người nghe dễ trầm trồ. Nhưng càng nghe lâu, Em càng nhận ra đó lại chính là điểm hay của bộ dàn này, SCM-7 V3 là đôi loa rất lạ, nó không cố làm cho âm nhạc trở nên hấp dẫn hơn thực tế, nó cũng không cố chứng minh khả năng của mình bằng những màn trình diễn ngoạn mục. Khi được ghép với Metis 5, đôi loa nhỏ này cho thấy khả năng kiểm soát của nó. Từ những tiếng trống nhỏ nhất cho tới các đoạn cao trào phức tạp, hệ thống luôn giữ được sự ngăn nắp, các nhạc cụ đứng đúng vị trí của mình mà không lấn sang nhau. Có những bản thu trước đây Em thường chỉ nghe được tổng thể, nhưng với bộ dàn này, từng lớp nhạc cụ hiện ra rõ ràng hơn. Không phải vì chúng được làm nổi bật lên, mà vì nền âm phía sau đủ sạch để người nghe dễ dàng nhận ra chúng đang tồn tại. Dải trung âm mang đậm tinh thần ATC mà nhiều người vẫn nhắc đến. Giọng hát có kích thước tự nhiên, không phình to bất thường và cũng không bị làm mỏng đi. Điều đáng quý là giọng nam lẫn giọng nữ đều giữ được sự cân bằng. Khi nghe những bản vocal quen thuộc, Em không có cảm giác đang nghe một thiết bị trình diễn chất âm, mà giống như đang nghe một người hát trong không gian thực. Dải cao cũng là điểm khiến Em hài lòng sau vài giờ nghe liên tục, tiếng cymbal, violin hay guitar acoustic đều rõ ràng nhưng không hề gắt, người nghe vẫn nhận được đầy đủ thông tin của bản thu mà không phải đánh đổi bằng sự mệt mỏi. Điều khiến Em bất ngờ nhất lại nằm ở dải trầm, Em từng nghĩ một đôi loa có kích thước như vậy khó có thể mang lại cảm giác thỏa mãn, thực tế đúng là nó không tạo ra lượng bass lớn, nhưng chất lượng của phần trầm lại vượt ngoài mong đợi. Tiếng bass có điểm bắt đầu và kết thúc rõ ràng, không kéo đuôi và không làm mờ các dải âm khác. Trong phòng khoảng 15m² và vị trí nghe gần, Em chưa bao giờ cảm thấy thiếu bass đến mức khó chịu. Có những bộ dàn nghe thử 30 phút thì rất hấp dẫn nhưng sau vài lần lại bắt đầu thấy mệt, hệ thống này thì ngược lại, nó không gây ấn tượng mạnh trong khoảng đầu tiên, nhưng càng nghe càng thấy dễ chịu. Tổng thể, Em nhận ra sức hấp dẫn lớn nhất của bộ dàn này nằm ở sự cân bằng, không có thành phần nào cố gắng trở thành nhân vật chính, loa không khoe trung âm, ampli không khoe khả năng kiểm soát, DAC không khoe độ phân giải, mọi thứ phối hợp với nhau theo cách rất tự nhiên. Nếu phải mô tả bằng một câu ngắn gọn, Em sẽ nói đây là hệ thống dành cho người muốn nghe âm nhạc thay vì nghe thiết bị, đây là một phối ghép rất đáng để trải nghiệm.