Giáo trình Âm thanh - Chương XIII :Hệ thống cho âm nhạc (music)

Discussion in 'Thư viện VNAV' started by Tech-Info, 1/5/22.

  1. Tech-Info

    Tech-Info Support

    Joined:
    27/3/17
    Messages:
    212
    Likes Received:
    409
    Location:
    VNAV
    Biên tập : Lê Tuyên Phúc
    http://www.giaotrinh.soundlightingvn.com

    CHƯƠNG XIII :Hệ thống cho âm nhạc (music)

    Yêu cầu chung

    Trong âm thanh prosound cho chương trình âm nhạc, tiêu chuẩn chấp nhận tối thiểu được
    cho thiết kế hệ thống có khuynh hướng, như có thể dự đoán, mở rộng khá đáng kể từ những gì đã có
    của hệ thống âm thanh voice thông thường.

    Thứ nhất, trong ứng dụng ca nhạc, mỹ quan hấp dẫn của âm thanh có khuynh hướng ưu tiên
    cao hơn cho hệ thống công cộng, thay vì sự xa xỉ đó là điều cần thiết. Thứ hai, chương trình âm nhạc thường lớn hơn phóng thanh rất nhiều. Thứ ba, nhu cầu tăng cường nhạc cụ bass, cần phải bổ sung vào công suất hệ thống ít nhất là 1 - 2 octave trong giải tần số thấp. (Mọi thứ khác đều như nhau, chỉ là hệ thồng sau đòi hỏi ít nhất gấp 2=>4 lần kích cỡ của một hệ thống tương đương cho âm thanh phóng thanh).

    Ngoài ra, thiết bị mixer đa năng với tích hợp EQ onboard để xử lý nhạc cụ âm nhạc chất
    lượng khác nhau cùng với khả năng xử lý tín hiệu đủ để tạo ra hiệu ứng âm thanh được yêu cầu. Thông thường, việc bổ sung compressor / limiter, noise gate và / hay thêm nhiều EQ outboard được gọi là cho (for). Ngoài ra, yêu cầu loa monitor cho diễn viên ca nhạc quan trọng hơn loa monitor của hệ phóng thanh rất nhiều.

    Trong cùng môi trường, sự khác biệt giữa mức độ âm thanh cho chương trình nhạc nhẹ
    (light) và chương trình nhạc nặng (heavy) có thể vượt quá 20 hay 30dB. Một chương trình nhạc nhẹ để nghe hay nhảy múa có thể yêu cầu mức âm thanh trung bình khoảng 75dB đến 90dB SPL tại vị trí khán giả trung bình, trong khi nhu cầu của show rock đương đại công suất cao có thể lên đến 100 => 115dB SPL khắp hầu hết khán giả. Đã giải thích trước đây, thí dụ, một sự gia tăng số lượng công suất âm thanh 20dB là phải tăng gấp trăm lần mọi nhu cầu trên hệ thống âm thanh. Nếu tăng thêm 10dB bổ sung ( tổng cộng tăng 30dB) sẽ bao gồm sự gia tăng hàng nghìn lần mọi nhu cầu trên amplifier và loa. Kết quả là, tác động và hiệu suất của những thiết bị cho các hệ thống cao cấp có tầm quan trọng rất lớn.

    Đặc tính đáp ứng cần thiết đối với âm nhạc voice nói chung không cần nhiều năng lượng
    dưới 160 Hz hay cao hơn 12kHz. Hệ thống prosound cho một ban nhạc đầy đủ (bao gồm cả trống Sound & Lighting bass và bass guitar) thường cần phải có output có khả năng mạnh hợp lý để có thể xuống đến 50Hz hay 60Hz. (Sự khác biệt giữa khả năng đáp tần và sản lượng tối đa là cực kỳ quan trọng, như đã thảo luận trong chương 9 và trong hình 13.15). Như mọi khi, cần phải ghi nhớ, những chi tiết kỹ thuật của hệ thống gần như bất kỳ có khuynh hướng rộng hơn giải tần thật sự cần thiết.

    Đồng thời, cần phải nhớ góc phát tán thật tế của loa, về thực chất, có thể khác ở mọi tần số khác nhau (một yếu tố thường không trình bày đầy đủ chi tiết kỹ thuật của loa). Những biến thể dĩ nhiên ảnh hưởng đến tính nhất quán của chất lượng âm thanh trong những góc độ đã chỉ định của thiết bị (đã thảo luận trong Chương 9).

    Bố trí micro cho ca sĩ (Vocal Miking)


    Lựa chọn micro cho hệ thống vocal có thể là vấn đề tương đối đơn giản, thường dựa trên sở thích cá nhân. Khi chọn micro, tốt nhất nên thử nghiệm nó trên hệ thống trong đó micro sẽ dùng, hay ít nhất trên một hệ thống đã quen thuộc, trong một môi trường quen thuộc. Như đã thảo luận trong chương 5, hiệu ứng gần của micro đơn hướng (unidirectional) sẽ có khuynh hướng tăng giải thấp (low) rất đáng kể khi xử dụng gần. Có thể thừa tần số thấp, nếu cần sẽ dễ giảm bằng EQ graphic đơn hay với EQ trên mixer (điều này có thể không cần thiết khi loa không có đáp ứng LF mạnh). Trong hệ thống ca nhạc mà toàn bộ ban nhạc hay dàn nhạc này đang được gia cố, cho dù, chi phí có thể dễ leo thang nếu micro chọn vocal có đáp ứng tần số thấp mạnh như vậy, khi xử dụng gần, nó che lấp giải thấp cuối (low-end) cần thiết, trống kick, bass, tom-tom và nhạc cụ (xem thêm chương 17). Nếu ngân sách hạn chế, nên chọn micro vocal nói chung với những suy nghĩ sau đây. Thông thường, có thể chuyển đổi setup thích hợp để xử dụng micro vocal cho một hệ thống nhất định, bằng cách dung EQ onboard để điều chỉnh chất giọng khác nhau nếu cần. Không phải là nguyên tắc bất di bất dịch, việc xử dụng micro vocal có khuynh hướng đơn giản hóa cả việc chỉnh EQ của hệ thống chính lẫn của loa monitor.

    Hãy nhớ, góc thực hiện đề nghị, đã mô tả trong Chương 5, cũng như những hướng dẫn tổng
    quát cho việc xử dụng microphone đều được phác thảo trong cùng một chương.


    Screenshot_3.png Hình 13.1: Bố trí micro cho đồng ca (chorus ) / hợp xướng (choir). Hiển thị là cấu hình bố trí micro cho một giàn đồng ca tiêu biểu. Hãy nhớ, quy tắc 03:01 (giới thiệu trong chương 5) khôngphải là quy tắc bất di bất dịch. Nhưng phải tuân theo nó với mức độ hợp lý tốt nhất có thể, trong khi trang bị nguồn thu âm hiệu quả cho toàn bộ giàn đồng ca. May thay, những thành viên đội hợp xướng có khuynh hướng không thay đổi vị trí nhiều, vì vậy tác động lược-lọc comb-filtering dù có xảy ra cũng không nghe rõ. (Hãy nhớ từ chương 3, tai nghe có khuynh hướng trở nên nhạy hơn với sự thay đổi quan hệ phase) Đối với tình huống khi treo microphone kích thước bình thường không phù hợp, hầu hết hãng sản xuất microphone thương mại chất lượng cao, micro unidirectional nhỏ, kín đáo được thiết kế đặc biệt để gần như vô hình với khán giả. Thường dùng một sợi dây câu cá chiều dài đơn giản gắn liền với mặt sau micro để hỗ trợ việc giữ hướng treo micro theo hướng thích hợp.

    Screenshot_4.jpg Hiển thị một thí dụ khác của qui tắc 3:01, đưa vào thực hành cho một giàn đồng ca nhỏ

    Screenshot_5.png
    Hình 13.2: Thí dụ về micro vocal loại cầm tay. Bất kỳ micro nào trong này dĩ nhiên cũng có thể gắn vào chân micro đứng, và mỗi cái cũng cho thấy dùng bố trí cho nhạc cụ cũng tốt như nhau. Hình trên: Sennheiser MD - 431, tung ra thị trường là model 531 với thân toàn màu đen. Hình giữa: Shure Beta 58 và Beta 57. Với đặc điểm đáp ứng gần giống với tiêu chuẩn SM-58 và SM-57 nhưng với đáp ứng VHF hơi mạnh hơn, những micro này là một phần của lớp hiện đại hơn của loại micro nhẹ ký, có nam châm nhẹ hơn nhưng mạnh hơn. Vì nam châm mạnh hơn nên output cũng mạnh hơn, thường đòi hỏi phải bớt bộ khuếch đại input một chút khi dùng cùng với SM-57s hay SM-58s. Beta 57 cũng có vỏ bảo vệ cứng chắc hơn so với SM-57 , giảm khả năng thiệt hại do chấn động đáng kể. (Cả hai SM-57 và Beta 57 mà những show lưu diễn đều thích dùng cho trống snare và guitar điện). Hình dưới: AKG D – 330: nghệ sĩ nhiều nước đã ưa thích micro này dùng cho vocal cầm tay, mặc dù nó cũng thấy dùng rộng rãi trong những phong cách âm nhạc khác. (Micro này cũng là micro cho bục diễn thuyết được ưa
    chuộng, và thường thấy trong nhiều cuộc họp báo trêntoàn thế giới)

    Bố trí micro cho nhạc cụ (Musical Instrument Miking)

    Không giống như tiếng nói của con người, ngoại trừ mức độ cộng hưởng nhất định của ngực
    và xoang thì cơ bản nó là một điểm nguồn, âm thanh của nhạc cụ thường phát xuất từ khu vực lớn hơn hay từ nhiều điểm cùng một lúc. Kết quả là, định vị microphone là yếu tố then chốt trong việc xác định tùy chọn loại lấy mẫu của output nhạc cụ.

    Nói chung, cần phải đặt microphone gần nhạc cụ (để tăng cường mức độ tín hiệu và giảm
    thu nhận những âm thanh không liên quan), cách bài trí micro có khuynh hướng trở nên quan trọng hơn. Như quy tắc chung, micro phải đặt gần các phần tử dao động (thí dụ, dây đàn hay lưỡi gà của nhạc khí), nổi bật lên là năng lượng tần số cao của âm phổ thiết bị (mặc dù có vài trường hợp ngoại lệ, có lẽ nhạc cụ bằng đồng đáng chú ý nhất). Micro phải đặt gần những điểm cộng hưởng (thí dụ như thùng guitar, hay chuông, còi) nổi bật ở những nốt nhạc gốc và bội âm thấp (low và low-mid).

    Thí dụ, bố trí một microphone gần lỗ phát âm thanh của guitar thùng tạo ra sự cộng hưởng
    cân xứng và còn thêm độ trong trẻo và tiếng dây đàn bị cộng hưởng. Di chuyển micro theo chiều dài của cần đàn guitar sẽ tiếp tục làm nổi bật tiếng dây đàn, và làm chìm đi tiếng cộng hưởng của thùng đàn. Di chuyển micro đến cuối thùng cộng hưởng của guitar có thể làm giảm cường độ tổng thể, nhưng động thái này giảm tiếng dây đàn hơn tiếng cộng hưởng thùng đàn (và cũng có thể gây trở ngại cho cánh tay người chơi đàn). Tăng khoảng cách từ micro đến guitar sẽ giảm mức low đáng kể (một phần của việc giảm mức low có thể đơn giản là do có hiệu ứng gần), cũng như vài tiếng bite (sự khó chịu?) tại tần số cực cao, làm cho âm thanh tổng thể mỏng hơn khi bố trí micro đến gần hơn (nếu âm thanh khi đến gần quá bị ùm vang (boomy) hay quá hỗn loạn (buddy), có thể nên làm điều này).

    Mỗi nhạc cụ dĩ nhiên đều có thiết lập riêng của nó thật chi tiết cụ thể, phụ thuộc nhu cầu của
    diễn viên. (Phán đoán theo kinh nghiệm và kiến thức về đặc tính micro sẽ còn là quãng đường học hỏi khá dài nữa). Khi nhạc sĩ ngồi hay đứng ở một vị trí mà không cần di chuyển nhạc cụ, việc bài trí micro thích hợp có thể dễ dàng xác định bằng vài thử nghiệm ngắn. Khi biểu diễn cần phải di chuyển bất cứ mức độ nào, việc bố trí micro có thể là một thách thức thật sự. Trong trường hợp này, có thể thực hiện một trong hai cách sau: (1) làm cho nghệ sĩ biểu diễn đến micro, hay (2) làm cho micro đi theo nghệ sĩ biểu diễn.

    Micro kẹp (clip-on ) và bộ liên lạc (contact transducer) chắc chắn có thể hữu ích nếu micro
    cần phải đi theo nghệ sĩ biểu diễn. Đây là loại có thể dễ dàng tiếp cận được dùng cho nhạc cụ dây thùng rỗng và nhạc cụ hơi gió. Hình 13.4 minh họa vài phương pháp tiếp cận liên quan đến việc gắnmicro vào nhạc cụ. Micro không dây (wireless) có thể hỗ trợ quy trình này, mặc dù khi trang bị hệ không dây có thể phải có sự cân đối giữa chi phí tài chính và sự thiết lập, cũng như việc điều khiển khá phức tạp. Một thiết lập hệ không dây cho người biểu diễn có ưu điểm vì sự tự do di chuyển rộng.

    Micro không có hiệu ứng gần (proximity effect) đôi khi có thể hữu ích trong việc bố trí micro
    cho nhạc cụ, làm giảm biến đổi trong chất lượng âm sắc. Những sự đánh đổi (trade-off) ở đây là sẽ ít bị từ chối tần số thấp hơn từ loa và / hay nhạc cụ khác (điều này có thể sẽ là một khuyết điểm chủ yếu khi dính líu đến trường hợp bị feedback hay thu nhận những âm thanh chung quanh).

    Screenshot_6.png
    Hình 13.3 : Guitar thùng :Bố trí micro cho một nghệ sĩ guitar đang ngồi ghế thường khá đơn giản, vì guitar có khuynh hướng di chuyển rất ít đối với micro. Khi tay guitar đang đứng, nhiều kỹ sư muốn có micro không có hiệu ứng gần, để giảm những biến thể về chất lượng âm khi tay guitar di chuyển. Một vấn đề thường gặp với micro có hiệu ứng gần, sẽ xảy ra khi hiệu ứng gần kết hợp với cộng hưởng gần lỗ thoát âm. Kết quả là bị feedback tần số thấp.

    Screenshot_7.png

    Hình 13.4 :
    Thí dụ về việc gắn microphone vào nhạc cụ.

    Hiển thị vài phương pháp phổ biến của việc dùng micro kẹp (clip) lavalier (ve áo) để làm pick-up cho nhạc cụ. Những micro minh họa ở trên trong A, B và C là AKG C-567 đa hướng (omnidirectional) (cardioid sẽ không có lợi thế, vì xử dụng nó khó có hiệu quả tốt). Hình bên phải là minh họa các AKG 747, một micro condenser nhỏ gọn với cổ ngông và kẹp, thiết kế cho việc bố trí micro cho nhạc cụ nói chung.

    Vài nhạc cụ có khuynh hướng rất định hướng trong output của nó. Nhiều nhạc cụ, trong thiết kế của nó có còi loe ra, nơi tập trung tần số cao trên trục của hướng có điểm của còi. Điều này là đặc trưng của kèn trumpet và trombones. Có thể thực hiện vài phương pháp tiếp cận. Trong hệ thống cao cấp, cách tiếp cận phổ biến và đơn giản nhất là tại điểm nhạc cụ trực tiếp với micro ở cự ly rất gần, và nếu cần, nên cut mức high bằng EQ (nên tính toán về độ trong trẻo muốn có). Nếu micro đó có hiệu ứng gần mạnh, để tốt hơn, có lẽ cần cut mức low của nó. Tăng khoảng cách source-to-mic và kéo nhạc cụ hơi xa micro, trong vài trường hợp, có thể làm giảm khả năng biến đổi lớn ở cả hai cấp chất lượng âm sắc lẫn biên độ âm thanh khi nhạc công di chuyển nhạc cụ, cũng như cung cấp mô hình đại diện cho nhiều âm thanh của nhạc cụ trong khoảng cách mà một khán giả trung bình có thể nghe thấy âm thanh. Điều này dĩ nhiên phụ thuộc vào ứng dụng. Loa monitor sân khấu có thể cho phép nhạc công điều chỉnh âm thanh bằng cách nghe nó, là một trong vài lĩnh vực thực hành thật tế của prosound, nơi mục tiêu giao tiếp rõ giữa soundperson và nhạc sĩ có thể rất quan trọng. Một cách tiếp cận phổ biến là gắn một micro nhỏ ở phía trước còi, thể hiện trong hình 13.4.

    Trumpet và trombone, cũng như sax, có thể có output rất cao ở cự ly gần, do đó, microphone phải có thể chịu được áp lực âm thanh rất cao mà không bị méo tiếng đáng kể (micro chất lượng cao hiện đại có khả năng này).

    Khi bố trí micro cho ampli nhạc cụ, cần phải xem xét đặc tính định hướng của loa nhạc cụ.

    Thông thường, khi đặt micro gần trục trung tâm của loa nhạc cụ, âm thanh sẽ trong sáng hơn. Khi có nhiều loa bao gồm trong một thùng ampli, dĩ nhiên chúng ta cần phải xác định vị trí từng loa đằng sau những vải lưới mặt và xác định trục của nó ở đâu, để bố trí micro.
    Screenshot_8.png
    Hình 13.5 : Kèn flute / sax.

    Micro cho flute trong hệ thống cho một ban nhạc đương đại thường được thiết lập tương tự như micro vocal, về vị trí đứng của micro, thiết lập bộ suy giảm (antenuator) input, và EQ. Vì vậy, tương đối dễ dùng một micro cho cả vocal và tiếng flute trong tình huống khi người chơi flute / sax cũng là ca sĩ. Micro kèn sax, là chuyện khác, vì cả hai vị trí micro và cài đặt mixer EQ thường rất khác với dùng cho giọng hát tiêu biểu. Chỉ lúc bức thiết mới được dùng nó cho cả hai: vocal và sax.
    Screenshot_9.png

    Hình 13.6 :Kèn trumpet / trombone.

    Trong hình minh họa này, vị trí được đề nghị là hơi lệch tâm hướng của micro, tại điểm còi loe và ở khoảng cách nhỏ. Với hệ thống cao cấp, nhiều kỹ sư muốn thật gần (close up), trên trục định vị, như trong B. Những khuyết điểm, cho dù, đôi khi có hiệu ứng gần quá mạnh khi bố trí close up và đôi khi có sự biến thiên hướng xạ về chất lượng âm sắc và âm lượng theo động thái của nhạc công. Ở những địa điểm nhỏ, có thể yêu cầu âm thanh output tương đối lớn của horn chỉ tăng cường khá nhẹ (và có thể thêm reverb, v.v.) qua chính hệ thống đó. Ở những địa điểm lớn, mặc dù, chỉ đề cập đến sự thay đổi nào có thể trở nên quan trọng. Một hệ thống monitor hoạt động khá tốt dĩ nhiên sẽ giúp nhạc công điều chỉnh còi kèn của họ năng động bằng tai, thí dụ, để làm mờ tác động fade in và fade out (từ từ tăng và giảm âm lượng).
    Screenshot_10.png Hình 13.7 : Acoustic piano.
    Lúc bức thiết, cũng có thể dùng một micro cho piano acoustic, mặc dù hai micro là tiêu chuẩn cho bất kỳ pickup hợp lý chất lượng cao nào. Khi bài trí hai micro chuẩn, một được chọn để đặt lên vị trí trung bình của dây đàn thấp, và cái khác trên dây đàn cao. Điều này cũng cho phép dùng EQ riêng biệt khi cần để thay đổi đặc tính của dây đàn cao và thấp gặp trong cây đàn piano. Trường hợp túi tiền cho phép, micro với đáp ứng tạm thời tốt, chẳng hạn như micro condenser hay micro ribbon, có thể cung cấp ưu điểm bổ sung, đặc biệt trên dây đàn cao.

    Trong vài tình huống quan trọng, và nơi mà thời gian và túi tiền cho phép, nhiều kỹ sư sẽ dùng nhiều hơn hai micro. Một cách bố trí thông thường cho cây đàn piano là cách dùng micro thứ ba bao gồm hai micro biên giới (boundary) (như PZM) đặt bên trong gần đỉnh piano, và một micro thông dụng thứ ba có pickup tần số thấp mạnh gắn ở vị trí bên dưới piano, gần bảng cộng âm. Với loại piano thẳng đứng, có thể xử dụng sự sắp xếp tương tự với một hay nhiều micro thêm phía sau piano, đặt gần bảng cộng âm (sounding board).

    Screenshot_11.png Screenshot_12.png

    Hình 13.8 : Electric guitar.

    Hình trên bên trên thể hiện loại ampli guitar xếp chồng truyền thống, đã đặt micro cho hệ thống pro-sound. Sự sắp xếp như vậy có thể trông khá ấn tượng, khuyết điểm là output mạnh trực tiếp ở phía trước của ampli, nhưng output lại nhỏ ở tần số khoảng 1kHz hay 2kHz tại hai bên. Đây là vấn đề nghiêm trọng đối với người vận hành hệ thống pro-sound, nói cách khác tiếng guitar lớn trực tiếp ở phía trước ampli, và rất ít âm thanh guitar ra cho hai bên. Điều này có thể khắc phục bằng mixing trong bất kỳ tình huống
     
    Last edited: 1/5/22
  2. Tech-Info

    Tech-Info Support

    Joined:
    27/3/17
    Messages:
    212
    Likes Received:
    409
    Location:
    VNAV
    Screenshot_13.png
    Hình 13.9 :Bass


    Càng ngày, người chơi đàn contre bass dây cần có pickup cài đặt ngay trong nhạc cụ của mình. Khi cần phải bố trí micro cho họ, hai cách bố trí ở hình trên bên trái là phổ biến nhất. Chắc chắn micro nên có pickup tần số thấp thật mạnh, và nếu có thể thêm hiệu ứng gần mạnh thì tốt hơn. Phương pháp kết nối guitar bass với hệ thống pro-sound là direct input. Đôi khi, những ampli bass chính nó có một âm thanh nào đó được coi là cần thiết, trong trường hợp này đôi khi dùng một micro bổ sung, như ở trên. Sau đó có thể mix channel direct và micro lại trong bất kỳ loại kết hợp nào mong đợi.

    Bố trí micro cho trống và bộ gõ (Drum and Percussion Miking)

    Bố trí micro cho bộ trống là một khía cạnh của pro-sound truyền thống đã giới thiệu đôi chuyện về những thách thức cho soundpersons, vì số lượng nguồn âm thanh trong không gian tương đối nhỏ như vậy. Sự ra đời của bố trí micro sát (close-miking) và sự thay đổi hoàn toàn âm thanh bộ trống trong studio tạo ra những kỳ vọng cho một loại âm thanh tương tự trong buổi biểu diễn live mà bây giờ vẫn có thể là một nhiệm vụ khó nhai. Sự xuất hiện của trống synthesized và sampler digital gần đây đã được nhân rộng khá dễ loại âm thanh studio. Trong vài trường hợp, chuyện này đã đơn giản hóa những nhiệm vụ của soundperson. Trống acoustic, được ưa thích bởi hầu hết tay trống và chắc chắn sẽ tiếp tục tồn tại, như vậy sẽ cần phải bố trí micro và thay đổi âm thanh cho nó.

    Việc thay đổi phổ biến nhất những âm thanh của một bộ trống thông thường cho một sự nhấn mạnh lên cả hai âm thanh, khi tiếp xúc (dùi gặp mặt trống) ở tần số cao, cũng như tăng cường những tần số cơ bản của bộ trống. Những nền tảng cơ bản thay đổi nhiều từ trống này đến trống khác, điều này thường có thể là một nhiệm vụ phức tạp. Bố trí micro hiệu quả là một khía cạnh quan trọng của việc hoàn thành các mục tiêu này (cùng với muting và tuning trống thích hợp, và EQ phù hợp).

    Đối với trống chỉ có một mặt, bố trí một micro trong mỗi trống như trong hình 13.10 cung cấp cả tín hiệu cấp cao lẫn tách riêng âm thanh tuyệt vời từ những trống khác. Điều này cho phép khi điều chỉnh âm thanh cho mỗi trống có tính linh hoạt cao.

    Trống hai mặt truyền thống cần bố trí micro trên cao theo cách chọn chỗ đặt để thu âm thanh của mỗi trống mà không cản trở kỹ thuật chơi của các tay trống. Bố trí micro như trong hình 13.10 (xa bên phải) có thể trong rất nhiều trường hợp cho phép một micro cung cấp hiệu ứng bao phủ trên hai trống liền kề có đặc tính tương tự (thí dụ, hai tom-tom).

    Screenshot_14.png
    Hình 13.10 :Trống và bộ gõ

    Hình bên trái thể hiện sự bố trí micro cho toàn bộ bộ trống. Lưu ý micro cho trống snare, thông thường là micro unidirectional được đắt hướng ra xa trục của high-hat. Tuy nhiên, trong vài trường hợp, không thể tránh khỏi việc thu được tiếng đánh high-hat quá lớn, trong trường hợp channel trên mixer của trống snare có thể cần noise-gate (cùng với trống kick và tom bất kỳ nào có tiếng rung (ring) quá mức),

    Khi cài đặt khiêm tốn, micro và các channel input có thể bị hạn chế, nói chung, quan trọng nhất là micro kick và snare (trong khi micro cho snare có khuynh hướng cho ra âm lớn, điều này cho cơ hội để thêm thiết bị tạo tiếng vang qua hệ thống), và sau cùng, có lẽ nên bố trí một micro trên cao để nhận âm thanh tổng thể của bộ trống này.

    Hình dưới là hiển thị vị trí micro tiêu biểu cho loại trống khác. Hãy nhớ, hiệu ứng gần mạnh nhất là trên trục, do đó, đôi khi chúng ta có thể thay đổi đáp ứng bằng cách thay đổi góc độ của micro. Hình xa nhất bên phải, một micro được dùng để bao phủ hai trống tương tự như nhau. Ở đây, trong khi gain của channel input có thể cần phải được đặt cao hơn một chút, và low end tăng ít hơn một chút, điều này thường được bù đắp bởi một thật tế là đang xử dụng vài micro mở sẵn. Hai rack lân cận gắn toms hay hai toms bass liền kề nhau là ứng viên tốt cho phương pháp này để tiết kiệm số lượng micro và channel input.

    Screenshot_15.png
    Screenshot_16.png

    Hai congas thường có thể được bao phủ hiệu quả bằng một micro, mặc dù trong những tình huống quan trọng, nếu đủ channel input và có sẵn micro, một micro cho mỗi trống cho phép điều chỉnh những âm thanh của mỗi trống linh hoạt hơn. Bongo, mặt khác, vì nó rất nhỏ và gần nhau, nên chỉ cần một micro là đủ. Những bộ gõ khác nên bố trí micro trên cơ sở từng trường hợp một để cung cấp một mô hình hợp lý hiệu quả cho âm thanh của nó.

    Trống snare đôi khi có thể khó đặt micro gần nó, vì âm thanh của nó liên quan đến: ngoài những dao động của mặt trống và cộng hưởng nội bộ và cả những âm thanh của dùi đập trên mặt trống lẫn những âm thanh tần số cao băng tần rộng bên dưới trống snare. Phương pháp bố trí micro cho trống snare truyền thống là dùng một micro xéo góc ở mặt trên. Để có được tỷ lệ của âm thanh dây snare-spring bên dưới hợp lý (và trống), thường cần phải đẩy mạnh upper-mid và các tần số cao tại EQ của mixer. Điều này thường có hậu quả thu được những âm thanh của high-hat gần đó quá mức, đặc biệt nếu phong cách của tay trống hay đánh mạnh vào high-hat ở vị trí mở của nó. Gắn thêm micro bên dưới trống snare là suy nghĩ đầu tiên để có một giải pháp dễ loại bỏ trở ngại này. Tuy nhiên, vị trí đối xứng của micro và trống gây ra những bội âm cơ bản và thấp, thu được hầu hết sự ngược phase chính xác, có tiềm năng gây ra sự triệt tiêu nghiêm trọng của những tần số low và low-mid.
    để thêm tiếng lách tách vào âm thanh của dùi đánh vào mặt

    Có hai giải pháp cho tình thế khó xử này. Một cách tiếp cận là cắt giảm tần số low và low-mid của tín hiệu từ micro bên dưới (tại mixer hay bằng EQ outboard) để giảm hiệu ứng tương đối của micro bên dưới tại tần số thấp của trống trong khi vẫn cho phép sao chép hiệu quả âm thanh snare- sping. Một cách khác là hàn dây cho micro bên dưới ngược phase 180 độ, thể hiện trong chương 16, cho phép tần số thấp của trống nhận được khoảng đồng phase cho cả hai micro. (Hãy nhớ đánh dấu dây micro). Mixer chất lượng cao đôi khi có một switch trên mỗi channel, cho phép soundperson đảo ngược phase của tín hiệu input. Đây là một thí dụ về cách xử dụng hoàn hảo cho switch như vậy.

    Phương pháp bố trí micro cho trống snare phổ biến nhất là dùng một micro cardioid đơn hay đơn giản là chỉ cần một micro supercardioid ở ở mặt trên, thể hiện trong hình13.10. Trong tình huống bình thường, điều này cho phép cho ra âm thanh rất đúng đắn. Một noise gate insert vào channel trống snare tại mixer là cách chế ngự tiếng high-hat quá lớn khác.

    Bố trí micro cho trống bass (kick) hai mặt đặt ra trở ngại không giống như của trống snare. Trống kick thường đặt micro từ phía trước, nhưng những âm thanh va đập của pedal-beater, trong âm nhạc hiện đại, là nhấn mạnh một phần âm thanh của nó. Một micro bổ sung có thể được đặt phía sau trống để thu nhận âm thanh pedal-beater. Nhưng phương pháp này có bất lợi nghiêm trọng khi thu được những âm thanh của trống snare to hơn nhiều, giảm mạnh tỷ lệ tách ra của hai âm thanh khi vào mixer, và do đó có khả năng phải EQ riêng. (Âm thanh của pedal-beater và snare-spring thường được nhấn mạnh trong những khu vực âm phổ khác nhau). Một giải pháp phổ biến là loại bỏ mặt trống phía trước để cho một micro vào bên trong trống. Cắt một lỗ ở mặt trước là một cách tiếp cận phương pháp này khá chuẩn hiện nay. Nếu bạn không thể loại bỏ mặt trống phía trước, có thể thu âm thanh pedal-beater bằng cách dùng micro gắn trên một cổ ngỗng, gắn chặt vào vành trống bằng cái kẹp (clamp), loại như ở hình 13.12. Như đã nêu, sự đổi chác bình thường là sẽ có một số lượng đáng kể âm thanh của trống snare lọt vào trong tín hiệu của micro (ngay cả đã có noise-gate tiêu chuẩn). Cách duy nhất chung quanh vấn đề này là một noise-gate có vòng lập kiểm soát đã điều chỉnh (tuned controll loop) cẩn thận, như đã thảo luận trong chương 8 và sẽ mô tả trong hình 13.23.

    Micro đặt trên đầu như trong hình 13.10 có thể cung cấp pick-up cho âm thanh cymbal khá hiệu quả. Micro này có đường đồ thị mượt mà trong giải tần rất cao, chẳng hạn như micro condenser có thể hữu ích ở đây. Thường không cần micro đặt trên đầu khi bố trí miro cho tom-toms từ trên đỉnh, cũng như khi có vài micro vocal đặt trong phạm vi gần trên sân khấu cách nhau chặt chẽ.

    Giải tần và đáp tuyến của micro cho trống và bộ gõ, cũng như với những ứng dụng khác, phụ thuộc vào giải tần của nhạc cụ và ý muốn hình thành chất lượng âm sắc ra sao. Thông thường, cũng cân nhắc việc micro cho trống cũng đề nghị cho nhạc cụ khác và vocal, vì nó cũng nằm trong nhiều loại micro chất lượng cao nhất. Chắc chắn, bằng cách dùng microphone có đáp ứng tần số thấp tương đối mạnh cho trống low-pitched (nhất là là kick và low tom) sẽ có khuynh hướng đơn giản hóa rất nhiều tiến trình EQ và mixing.

    Screenshot_17.png
    Hình 13.11:Thí dụ thương mại của micro trống kíck được ưa thích

    Từ trái sang phải: Beyer M-88, AKG D-12E, AKG D-112, Electro-Voice RE-20/PL-20, Beyer M-380. Những micro này nằm trong số những thiết bị dùng rộng rãi cho trống bass, không nhất thiết bắt buộc phải xử dụng nó. M-88, thú vị, là một micro được ưa chuộng trong những show lưu diễn cho cả trống kick lẫn vocal. D-112 là phiên bản cập nhật của loại cổ điển D-12E, có đáp ứng ở tần số mid và high khác. RE-20 cũng thấy dùng khá rộng rãi như là micro cho live sax, cũng như cho studio của chương trình phát thanh. M-380, một micro bi-directional(hình số 8) với hiệu ứng gần tần số thấp rất mạnh, cũng xử dụng tốt trên đàn bass dây, tuba, và những nhạc cụ bass khác. Bất kỳ micro nào, nếu nó hoạt động tốt cho một ứng dụng nhất định, dĩ nhiên nên xử dụng nó, nhưng hãy nhớ, trong khi mix cuối cùng, nó là sự kết hợp tổng thể của micro trên sân khấu mà quyết định sẽ mix với nhau như thế nào cho phù hợp.
    Screenshot_24.png
    Hình 13.12 :Phụ tùng cho micro thương mại.

    (A) Latin Percussion LP Claw ®, dùng để gắn micro vào vành trống và nhạc cụ gõ khác, thể hiện trong hai trong số nhiều loại có thể định hướng.
    (B) Vật dụng gài micro, Atlus TM-1 và Sennheiser MZS 235 (hiển thị là hai micro MD- 421, có thể dùng cho rack-toms). Những loại vật dụng này được dùng rộng rãi để thu lại những âm thanh nổi sống động của buổi biểu diễn nơi muốn thu trên tape / disc âm thanh của khán giả và / hay không khí môi trường.
    (C) Atlas LO-2 (phiên bản xi màu đen là LO-2B) cho phép tháo nhanh micro kẹp.
    (D) Jack XLR loại bẻ góc là phụ kiện hữu ích cho trống và chỗ không gian chật hẹp khác, thí dụ, micro tom bên dưới cymbals, v.v Trong hình là jack nối Switchcraft R3F. Vài loại dây micro ngắn có jack bẻ góc, có lẽ chỉ vừa đủ dài để đến bên dưới cùng của chân micro boom tiêu biểu (gọi là 6' đến 9', hay 2 => 3m) cho phép thêm cấu hình này ở bất cứ nơi nào cần cho buổi biểu diễn.

    Input trực tiếp. (Direct Input)
    Thông thường nó rất hữu ích để cung cấp input trực tiếp (thời xưa cũng được đề cập tới trong ngành như từ direct injection) đến mixer từ ampli nhạc cụ hay nhạc cụ điện tử như guitar bass, bộ xử lý guitar điện, keyboard điện tử, trống synthesize và bộ thu của micro không dây .

    Bằng cách xử dụng direct injection (input trực tiếp, viết tắt là DI), có thể loại trừ những khiếm khuyết và thay đổi trong ampli cá nhân của nhạc sĩ có thể loại trừ, vì có thể có rò rỉ khác trên âm thanh sân khấu. Nhiệm vụ mix cho ban nhạc, đặc biệt là trong hầu hết loại hình âm nhạc đương đại rất phức tạp bởi sự rò rỉ qua những âm thanh trên sân khấu khác, phương pháp này có thể rất hữu ích.

    Thiết kế thiết bị nhỏ khác để thực hiện việc direct injection (DI box, hay direct box), có thể insert vào trong đường dẫn tín hiệu giữa output của nhạc cụ và input của ampli nhạc cụ, hay giữa output của ampli và loa nhạc cụ (với việc xử dụng tùy chọn tích hợp (built-in option) để giảm cường độ tín hiệu đến một mức độ phù hợp với input của mixer sẽ có dạng là một switch hay một jack cắm input riêng biệt). Thiết bị Rack-mountable với một số channel của DI circuitry cũng được sản xuất bởi nhiều hãng sản xuất.

    Đây là loại mạch nên cho phép ngắt kết nối giáp tiếp đất (shield ground) tại thiết bị, cần thiết để tránh sự tiếp đất dư thừa, được gọi là vòng lập tiếp đất (ground loops) (sẽ thảo luận thêm trong chương 16).

    Một cách tiếp cận hệ thống liên quan đến direct input cho phép loại bỏ hoàn toàn ampli nhạc cụ, bằng cách xử dụng cách mix thêm âm thanh nhạc cụ vào loa monitor sân khấu để cung cấp cho người biểu diễn. Điều này được thể hiện trong chương 15.

    Screenshot_19.png

    Hình 13.13. Cấu hình DI-box mẫu.

    Ở đây, tín hiệu từ một nhạc cụ điện tử đến một ampli nhạc cụ được lấy mẫu, với một bản sao của các tín hiệu gửi đến hệ thống pro-sound. Switch trên nhiều DI-box cho phép người dùng cắm một output ra loa rất đơn giản, chỉ là một switch pad để chuyển mức độ của ampli công suất đến mức độ line thích hợp (trong hình minh hoạ này nó được dán nhãn lựa chọn giữa instrument./line hay amplifier). Trong vị trí line level, chúng ta có thể cắm vào output trực tiếp của nhạc cụ hay line level output từ ampli nhạc cụ.

    Switch ground-lift thường cần phải bật qua lift hay ở vị trí ngắt kết nối ground để loại vòng lập tiếp đất (ground loop) để loại bỏ tiếng hum hay buzz thường đi kèm với tình huống này. Hãy tham khảo chương 16 để biết thêm về hệ thống tiếp đất.

    Screenshot_20.png
    Screenshot_21.png

    Hình 13.14 Định hướng chiều cao.

    Nhớ lại, tần số cao ít có khả năng uốn cong chung quanh vật thể. Nói chung, low và lower mid có thể dễ thâm nhập vào khán giả, trong khi higher mid và đặc biệt là high có khuynh hướng không được như vậy. Rõ ràng, chúng ta cần phải có horn tần số cao, và nếu có thể, những thiết bị tần số mid phải đặt ở vị trí ở trên đầu khán giả đến mức tốt nhất có thể. Bất cứ nơi nào, nó cũng có thể hữu ích nếu horn tần số cao có độ nghiêng nhẹ xuống khán giả, đặc biệt, nếu nó là horn radial hay straight exponential (trái ngược với một horn CD).

    Hình bên phải thể hiện cách bố trí đặc trưng với một chân loa chèn vào kết nối của thiết bị tần số thấp đi kèm.

    Thường đặt những thiết bị tần số thấp nhất trên sàn, không chỉ vì lý do trọng lượng, mà còn vì tần số thấp có thể bị mất lên đến 3dB khi nâng thiết bị LF lên khỏi mặt sàn nhà.
    Screenshot_22.png
    Hình 13.15 :Khả năng output tần số thấp.

    Nhớ lại từ chương 9, có sự khác biệt quan trọng giữa đáp ứng tần số và năng lực output lớn nhất (điều sau thường không công bố như là đường biểu diễn theo tần số).

    Một thiết bị hai way full-range tiêu biểu có thể có đáp ứng tần số thấp như trong những đường chấm chấm, nhưng năng lực output tối đa tại output đầy đủ của nó có khuynh hướng trông giống như đường đậm nét, do đó phải cần đến loa subwoofer để nhân bản hiệu quả trống kick, guitar bass và toms bass.
     
  3. Tech-Info

    Tech-Info Support

    Joined:
    27/3/17
    Messages:
    212
    Likes Received:
    409
    Location:
    VNAV
    1.jpg
    Hình 13.16Hệ thống tiêu biểu với thiết bị LF bổ sung.

    Thông thường, hệ thống thuộc loại này đang chủ động vượt qua khoảng 125Hz đến 200Hz, tùy thuộc vào khả năng của những thiết bị liên quan. Hình xa bên trái thể hiện một loa subwoofer hướng xạ trực tiếp. Bên cạnh đó thể hiện một W-bin tiêu biểu với một driver 18”. Một spacer dùng để nâng cao thiết bị fullrange lên một chiều cao thích hợp. Hình bên phải minh họa đường dẫn tín hiệu cho một hệ thống cơ bản của loại hình này. (xem thêm hình 13.19).

    2.jpg
    Hình 13.17 :Hệ thống thiết bị ba way cao cấp.

    Hệ thống như thế này thường được bố trí thiết bị riêng biệt, phổ biến rộng rãi trong cả hai lĩnh vực, vừa mới vừa hữu dụng. Đây là yêu cầu một crossover ba way điện tử và hai ampli công suất đôi, ngoài ra, bất cứ EQ và compressor nào cũng là vừa túi tiền. Cũng có thể thiết lập hệ thống này, dùng một channel ampli công suất cho thiết bị LF, với channel thứ tư chỉ định cho loa monitor.

    Cài đặt crossover tiêu biểu cho cả các hệ thống này là 200Hz và 2kHz. EQ lúc đầu nên được đặt ở vị trí flat, và biên độ output của crossover tăng dần cho đến khi thực hiện được chất lượng âm điệu hợp lý. Sau đó có thể dùng EQ outboard chính để tinh chỉnh đến đáp tần đúng ý cho một phòng nào đó.

    Hình trên bên trái minh họa một horn có họng 2" hướng xạ 90°, một thùng hai cái midrange 10" hay 12" tiêu biểu, và một loa họng xẻng (scoop), thấy trong cả hai thiết kế là driver 15" và 18 ". Những định hướng có hiệu quả của loại thùng driver midrange đôi này thường ở hướng khác, hơn là sát cánh bên nhau về một hướng, lý do này đã thảo luận trong chương 9. Nói chung chỉ lúc bức thiế,t nơi cao độ trần nhà thấp là vấn đề, thì thùng loa mới phải đặt nghiêng sang một bên..

    Hình trên bên phải minh họa một horn họng 2" định hướng không đổi, một thùng mid 12” đơn, và một horn gấp (fold) 18” đơn. Horn CD có thể là ưu điểm đáng kể, Thí dụ, trong hội trường, nơi thường cần mức cao để luôn bao phủ một góc tương đối rộng theo chiều dọc (40°) (Hãy nhớ, sự phát tán dọc của horn radial có khuynh hướng thu hẹp đáng kể khi tần số cao.. Điều này thường tốt trong phòng tiêu biểu hay câu lạc bộ, nơi khán giả ở trên sàn nhà, nhưng nó có thể là vấn đề về sự bao trùm những đối tượng có chiều cao khác nhau như việc sắp xếp chỗ ngồi dốc trong hội trường).

    Trong nhiều hệ thống, có thể tăng năng lực output giữa thiết bị mid và high trong cả hai hệ thống mẫu này bằng cách di chuyển điểm crossover lên ở tần số nào đó. Nhưng thật tế điều này thường để lại những khoảng trống lớn trong khả năng phát tán dưới điểm crossover HF. (Cả hai hệ thống này, tình cờ, có khuynh hướng cho ra beaming trong giải từ khoảng 800Hz đến 2kHz. Horn họng 2" radial cũng có khuynh hướng beaming ở giải trên khoảng 8kHz).

    3.jpg
    Hình 13.18 :Hệ thống bốn way cao cấp.​

    Ở đây chúng ta yêu cầu một crossover bốn way và ít nhất bốn channel ampli công suất, cộng với bất cứ cái gì cần thiết cho monitor. Rõ ràng, hệ thống loại này có thể đặt cùng nhau trong nhiều cách khác nhau, nhưng phải nỗ lực thực hiện để phù hợp với cả hai khả năng output lẫn đặc tính định hướng của những thiết bị tốt nhất càng tốt. (Đặc tính định hướng sẽ có khuynh hướng tham gia chủ yếu ở loa upper mid và high).

    Điểm crossover tiêu biểu cho cả hệ thống này sẽ là 80Hz-100Hz, 400Hz-500Hz, và 1.6kHz-2kHz.

    Hình trên bên trái minh họa một horn CD có họng 2", một cone khiển thùng mid, một Perkins bin 15” cho low-mid, và một loa xẻng (scoop) đơn 15" hay 18" cho low.

    Hình dưới bên trái minh họa một horn radial có họng 2 ", cone khiển upper mid, thùng horn15" LF đôi cho mid-bass (low- mid), và một thùng W-bin lớn (rộng 6ft) với driver 18". Hệ thống này có khả năng tương đương với tần số mid và high nhưng có khả năng nhiều low end so với hệ thống trên, do thùng 15" đôi và W-bin rất lớn. Tần số cắt hiệu quả của cả hai scoop lẫn W-bin minh họa ở đây khoảng 35Hz. Tại công suất tối đa, chúng ta hài lòng với output 50Hz hay 60Hz rất mạnh. (Xem lại hình 9.30).

    Screenshot_25.png
    Hình 13.19 :Bổ sung năng lực tần số rất thấp.


    Hình phải: Việc xử dụng nhiều thùng loa ở low end làm tăng đáp ứng tần số ở mức low, kéo dài độ cắt tần số thấp đến một tần số thấp hơn, và dĩ nhiên làm tăng năng lực output ở mức low lên tối đa.

    Đáp tần và năng lực thật tế dĩ nhiên sẽ biến thiên bởi những thiết kế thùng loa khác nhau, nhưng thường giữ lại nguyên tắc cơ bản của sự ghép tần số thấp lẫn nhau khi chúng ta thêm thùng loa. Do hiệu ứng ghép, với hai thiết bị, trên trục đáp ứng và năng lực output ở mức low tăng lên đến 6dB. Sự giới hạn tần số thấp hiệu quả kéo dài thấp hơn gần 1/3 octave. Khi tần số nâng cao hơn, sự tăng dần dần rơi xuống 3dB.

    Với bốn thiết bị trái ngược với chỉ có một, hệ thống gia tăng tiếp cận ở mức low 12dB, khi tăng tần số thon dần về phía 6dB. Giới hạn tần số có hiệu quả được mở rộng thấp hơn khoảng 2/3-octave so với chỉ một thiết bị.

    Để có hiệu quả cặp đôi, phải đặt những thiết bị càng gần nhau càng tốt, để vai trò cơ bản của nó như là một thiết bị lớn. (có thể, nếu cần thiết, xếp loe thành một vòng cung và vẫn đạt được tác động cặp đôi ở mức low. Như quy luật chung, chúng ta có thể xử dụng con số 6dB cho mỗi lần gấp đôi thùng loa mỗi khi bước sóng ít nhất gấp hai hay ba lần khoảng cách giữa trung tâm của thùng loa này với cái khác.

    Hình dưới: Như đã đề cập trước đây, nếu nâng thiết bị lên khỏi sàn nhà (cũng như khi treo nó lên), chúng ta có thể mất năng lực LF khá nhiều, đến 3dB. Chúng ta có thể, cho dù, lấy lại gain 3dB bằng cách đặt những thùng loa đối diện với bức tường thật chắc (chiết khấu một chút cho sự hấp thụ hay độ cong của bức tường). Nếu bạn đã đoán, đặt thiết bị LF đối đầu với sàn lẫn tường sẽ cót sự gia tăng 6dB so với treo trong không khí tự do, là bạn đã chính xác (một lần nữa trừ đi một chút cho sự hấp thụ của tường).
    Tương tự như vậy, việc đặt một thùng loa trên sàn nhà trong góc sẽ dẫn đến gia tăng 9dB (giả sử, thí dụ, bức tường đá granite). Điều này là do sự đa hướng thông thường của low thường bị ép vào góc phát tán hẹp hơn. Trong hầu hết ứng dụng cơ động, cho dù, lợi thế đã đạt được trong việc tìm kiếm góc nhà thường có giá trị hơn do lo ngại thật tế khác, và chúng ta có thể bắt buộc phải hài lòng với chỗ nào đó ở giữa sàn nhà.
    4.jpg
    Screenshot_26.png

    Hình 13.20:Hệ thống mẫu nhỏ với EQ outboard.

    Hình trên: Xử dụng EQ đôi 2 / 3 octave có thể là cách cân bằng chi phí hiệu quả cho phép cả hai hệ thống chính và monitor với một tủ gắn thiết bị (rack-mounted) duy nhất. Nó dùng một mixer âm thanh có một sum output, chúng ta có thể muốn EQ voice và nhạc cụ riêng biệt bằng cách xử dụng một patch trên mỗi submasters âm thanh stereo. Đây là một EQ bổ sung sẽ được yêu cầu cho monitor.

    Nếu dùng một mixer âm thanh stereo mà không có khả năng patch, hay không có sum output hay mix mono, chúng ta có thể xử dụng output left làm sub vocal, có output thông qua một channel EQ và hoàn lại thông qua một input Aux.. Những input Aux phải pan qua bên ngược lại hay sẽ tạo ra vòng hồi tiếp liên tục. Output right sau đó phục vụ như là chính (main) và được gửi đến EQ của nó (chotoàn bộ mix) và lần lượt chuyển tới crossover và ampli công suất. (Nếu xử dụng hệ thống có crossover passive full-range, dĩ nhiên sẽ patch EQ trực tiếp vào ampli công suất).
    5.jpg
    7.jpg
    Hình 13.21 Bổ sung EQ outboard cho hệ thống cỡ vừa.

    Khi dùng mixer âm thanh stereo tiêu biểu có sum output, chúng ta có thể muốn pan voice và nhạc cụ sang một bên và bass & trống sang bên khác.

    Chúng ta vẫn còn xử dụng mix mono, nhưng dùng sub trái và phải để cho phép thêm khả năng EQ và kiểm soát riêng biệt mức độ của mỗi loại. Điều này đôi khi là lựa chọn hấp dẫn vì khi xử dụng micro vocal gần thường cắt tần số thấp đi , trong khi trống thường đòi hỏi tăng tần số thấp. Xử dụng EQ graphic để thiết lập nhu cầu EQ cơ bản cho mỗi thể loại sau đó cho phép dùng EQ onboard để điều chỉnh từng cái linh hoạt hơn.

    Hình giữa hiển thị một lựa chọn thú vị. Chúng ta có thể thiết lập đường biểu diễn EQ cho voice một bên và bên khác cho trống và bass. Nhạc cụ nào rơi vào giữa hai loại về tổng nhu cầu EQ của nó có thể pan ở đâu đó giữa hai bên, xử dụng kết hợp cả hai đường biểu diễn của EQ. Điều này có thể hữu ích, thí dụ, khi đường biểu diễn EQ voice có quá ít đáy, và EQ trống có quá nhiều đường biểu diễn, có thể nói, cho một cây guitar hay keyboard.

    Hình bên dưới hiển thị những gì thường được coi là lý tưởng với một mixer âm thanh stereo tiêu chuẩn (gọi là 12 x 2 hay 16 x 2 và sum output) khi dùng cho âm thanh live. Ở đây, EQ riêng subs trái và phải và xử dụng như trên, nhưng main output có EQ 1/3 octave điều chỉnh sự pha trộn đến phòng riêng biệt.

    Monitor dĩ nhiên sẽ yêu cầu một thiết bị outboard riêng. Nếu có sẵn EQ outboard, một trong những nhạc cụ thường xuyên cần nó nhất có khuynh hướng là trống kick (mặc dù rõ ràng là không có quy tắc nào bất di bất dịch).

    6.jpg
    Hình 13.22 :Patch (ráp nối) tiêu biểu cho submasters.

    Khi xử dụng mixer có submasters cho pro- sound, thường patch EQ outboard vào insert của mỗi sub, để cho phép chỉ định EQ riêng từng loại nhạc cụ hay voice, ngoài EQ chính. (EQ outboard cho monitor không minh họa ở đây).

    Hình dưới là một mixer 16 x 4 x 2 tiêu biểu, và nhóm (group) submaster tiêu biểu. Nói chung chúng ta sẽ dùng một sub cho vocal, một cho trống, với các nhóm còn lại chỉ định theo ý muốn của soundperson để mixing tốt nhất và EQ thuận tiện. Vài soundperson sẽ thật sự xử dụng một sub trong cách bố trí cho một mình trống kick, có khuynh hướng có nhu cầu EQ riêng của nó, không chia sẻ cho bất kỳ nhạc cụ nào khác. Guitar bass thường gửi trực tiếp đến main mix, không dùng bất kỳ sub nào. Nếu đang xử dụng nhiều keyboard, chúng ta có thể muốn đặt tất cả keyboard trên một sub, và v.v.. Nhiều soundpersons thích chỉ định riêng một trong những sub chỉ dùng cho hiệu ứng (effect).

    Thông thường xử dụng vài dạng thức compression để kiểm soát dynamic cho sự mixing, độc lập với bất kỳ thiết kế hạn chế nào khác để bảo vệ hệ thống. Hình bên dưới thể hiện một compressor/limiter hai channel tiêu biểu, dùng một channel cho việc hạn chế mix tổng thể. Thường sẽ patch channel compressor / limiter thứ hai sau EQ outboard cho submaster vocal, vì vocal có khuynh hướng cần compressor cho một mix tiêu biểu. (trong thật tế, khi đối đầu với một hệ thống chỉ có một channel compress, nhiều soundperson có kinh nghiệm sẽ thật sự patch nó vào vocal và nhạc cụ thì loại bỏ không compress, để tránh có vocal bị đẩy phần còn lại của sự mix ra, trong lúc vocal ầm ĩ). Nói chung nên thiết lập compress chỉ tham gia trong lúc có thể sẽ gặp phải âm thanh lớn nhất, nếu không sẽ giảm gain before feedback đáng kể.

    Khi hệ thống hiện có khá lớn và nếu như ngân sách cho phép, bổ sung EQ outboard, bổ sung compressor/limiter (đối với từng submaster và hay cho từng nhạc cụ riêng hay những voice mà hiện nay năng động phiền hà) và thường thêm noise gate (thường cho bộ trống) vào để tạo điều kiện cho nhiệm vụ mix được thuận lợi.
    12.jpg
    Hình 13.23 :Bổ sung tùy chọn compressor / limiter.

    Hình trên thể hiện sự sắp xếp patch tương tự như ở hình 13.20, khi xử dụng mixer âm thanh stereo tiêu chuẩn không có sum output. Ở đây, đã EQ vocal và limit riêng từ main mix, với sự mix cũng như đã EQ và limit giữ cho mix tổng thể dưới sư kiểm soát năng động (dynamic controll). (Hãy nhớ lại, phải pan Aux. input ngược lại để tránh tạo ra feedback trong loại sắp xếp này).

    Khi dùng một mixer âm thanh có sum output, chúng ta có thể tách riêng EQ và compress trái & phải, loại bỏ sự cần thiết phải compress mix tổng thể. Khi ngân sách cho phép, compressor thường được cộng thêm cả main mix cũng như sự cố cho vài nhạc cụ và / hay voice.

    Hình bên dưới thể hiện sự sắp xếp patch tiêu biểu bằng cách dùng một bộ dò vòng lập (detector loop) để hạn chế những đặc tính của tần số phụ thuộc. Ở đây, patch output của channel left EQ một cách tiêu chuẩn, nói cách khác, đi qua compresor và quay lại mixer. patch detector loop cho EQ right. (Đôi khi patch detector có định dạng jack TRS, trong trường hợp cần phải dùng dây tín hiệu thích hợp, và xác định cái gì gửi đi (send), tip hay sleeve. Trong hình minh họa EQ trên detector loop đã thiết lập tần số cao nghiêng về để limit để yêu cầu làm việc hơi giống như một de-esser, mặc dù có thể xử dụng bất kỳ đường đồ thị cần thiết nào. Kiểu sắp xếp này thường có thể hữu ích trong việc giữ high end của vocal dưới sự kiểm soát, một vấn đề phổ biến với compress vocal. Nhưng hữu dụng của nó chắc chắn là không giới hạn vocal. Bất kỳ nhạc cụ, hay loại nhạc cụ nào trên một submaster, nơi tần số nhất định hình như nhảy ra ngoài bất chấp đã bị compress, thường là một ứng cử viên tốt cho detector patch.

    Tương tự như vậy có thể dùng detector patch kết hợp với một noise gate để làm cho hoạt động của nó phụ thuộc vào tần số. Một thí dụ về cách dùng như vậy là ở trống kick, để đáp ứng chỉ cho âm thanh của pedal-beater (giải 1kHz-4kHz).
     
    Last edited: 1/5/22
  4. Tech-Info

    Tech-Info Support

    Joined:
    27/3/17
    Messages:
    212
    Likes Received:
    409
    Location:
    VNAV
    8.jpg
    Hình 13.24: Những thiết bị hiệu ứng có khả năng MIDI.

    Hiển thị là cách sắp xếp patch để kiểm soát thiết bị hiệu ứng có MIDI cho đồng bộ. Chúng ta có thể muốn dùng sự sắp xếp để đồng bộ hóa những thay đổi phức tạp trong echo time và reverb cho đoạn nhạc cụ thể. Những thiết bị được patch là những hiệu ứng loop bình thường, nhưng trong sự sắp xếp này cho phép bộ điều khiển kiểm soát MIDI kết hợp với những thiết lập hiệu ứng.

    Ở đây thường yêu cầu vài thử nghiệm và chuẩn bị trước khi diễn tập. Nên thiết lập nhiều chương trình MIDI có sự tiến triển số lượng hợp lý để đáp ứng những nhu cầu có thể sẽ gặp phải khi biểu diễn live, từ sự kết hợp short echo và reverb time đến long echo và reverb time, và những dạng khác ở giữa.

    Việc dùng loại hình thiết lập này không nhất thiết phải loại bỏ những thay đổi hướng dẫn xử dụng tiêu chuẩn cần thiết để thích ứng với song-to-song và passage-to-passage bất ngờ trong khi biểu diễn, nhưng nó có thể rất hữu ích cho những thay đổi kế hoạch nhanh trước đó sẽ liên quan đến việc thay đổi quá nhiều thiết lập trong một thời gian rất ngắn. Thiết lập đúng và lưu lại, các hiệu ứng đặc biệt này sau đó sẽ sẵn sàng hoạt động mà chỉ cần bấm một nút trên bộ điều khiển MIDI. Điều này có thể đặc biệt hữu ích khi xử dụng, thí dụ, thiết bị multi reverb và / hay DDLs cho voice và nhạc cụ khác. (Định dạng MIDI cho phép lên đến 16 hiệu ứng khác nhau được hoạt động dưới một chương trình nhất định. Một cuộc thảo luận cụ thể về các kỹ thuật điều hành MIDI sẽ vượt ra ngoài phạm vi của giáo trình này, nhưng thông thường nó bao gồm trong tài liệu của hãng sản xuất cho bất kỳ bộ điều khiển MIDI nào. Cả hai loại rack-mountable và foot pedal đều sẵn có trên thị trường).

    9.jpg
    Hình 13.25 : Thiết lập sân khấu cơ bản.

    Kết quả tốt nhất trong việc đạt trước gain before feedback khi đường phía trước (front line) của thiết lập sân khấu ở ngoài góc phát tán của thiết bị loa. Loa monitor sân khấu dĩ nhiên cần được đặt hướng gần giống với các vị trí micro, nhưng nó thường được đặt nghiêng đi một góc, nơi hướng đáp ứng của micro thấp hơn. Với diễn giả chính thì không như vậy, trong đó, nếu đặt phía sau front line sân khấu, độ thu của micro sẽ ở góc độ nóng hơn nhiều. Một điều cần chú ý ở đây là sẽ có khả năng sẽ bị feedback ở low và lower-mid khi có micro nằm gần một trong những diễn giả chính (dù cách bao xa cũng vậy).

    Khi xử dụng hệ thống nhỏ không có loa monitor sân khấu, chúng ta có thể cho phép front line này chồng lên góc phát tán ra ngoài của loa tại điểm -6dB hay vượt qua, nơi đáp ứng thấp hơn nhiều so với trên trục (hãy nhớ, hầu hết hãng sản xuất cho ra góc trung bình -6dB khi trích dẫn độ phát tán). Trong khi giảm gain before feedback tối đa, điều này có thể cho phép người biểu diễn bắt sát cạnh của mô hình phát tán mà không rơi vào góc output nóng nhất của loa. Có thể thích hợp khi thiết lập phía trước sân khấu tại trung tâm biểu diễn chỉ một chút khi dùng phương pháp này, do đó, nó cũng bắt cạnh của mô hình.

    Hình dưới: Nếu người biểu diễn đi ra phía trước loa chính, cách thực hành hợp lý là lên kế hoạch tạo một vòng cung để tránh những khu vực gần chồng loa nhất, để giảm khả năng bị feedback. (Nhớ lại qui luật bình phương nghịch đảo từ chương 4). Ở chừng mực nào đó, nó cũng có thể giúp cho người biểu diễn dùng mặt và / hay thân mình để đưa micro vào trong khoảng che khi đi trực tiếp ở phía trước loa (chủ yếu là các mức high thì che được, nhưng mức high lại có khuynh hướng trở thành giải tần số ở chỗ chúng ta đang chờ để có

    10.jpg
    11.jpg
    Hình 13.26 : Thiết lập mixer cỡ vừa và thiết bị rack của FOH.

    Ở đây, thiết bị rack FOH (house) được chia thành hai rack để dễ di chuyển. Rack bên dưới chứa crossover, EQ chính và monitor và limiter chính, cùng với một Aphex (một channel cho main, một channel cho monitor). Rack bên trên bao gồm một DDL, thiết bị reverb, bốn channel compress (hai thiết bị channel đôi, và EQ 2/3 octave đôi cho submaster và / hay những bản patch cho nhạc cụ riêng biệt). Rack trên cùng cũng chứa một patch panel (thường gọi là patch bay) ở mặt trước rack để dễ truy cập vào thiết bị patch khi cần. Rack bên dưới còn có thêm một EQ dual-channel 2/3 octave, một channel trong số đó là patch như là một controll loop để limit tần số phụ thuộc, với channel thứ hai dành cho patch bổ sung khi cần. (Không bao gồm trong hệ thống đặc biệt này là noise gate cho những channel trống)

    ----- Hết chương 13 -----​
     
    tai_trau likes this.

Share This Page

Loading...