=> Đã là lý thuyết thì phải dài dòng, các bác chịu khó đọc và rút ra kết luận nhé Những vụ lừa dối trong khoa học: Những chuyện trời ơi TT - Vẫn là những chuyện tham vọng cá nhân kết hợp với thái độ “yếu bóng vía” trước danh tiếng của kẻ lừa dối mà những “công trình” cứ được công nhận. Những tấn bi hài ấy thể hiện rõ qua câu chuyện của nhà nghiên cứu người Mỹ Stephen Breuning. >> Sự thật và ngộ nhận trong khoa học Nhà tâm lý học Stephen Breuning sớm nổi danh trong giới nghiên cứu chuyên về giảm sút tâm thần. Mới 34 tuổi, anh ta được xem là người dám tấn công vào kiểu chữa trị dùng thuốc an thần neuroleptic. Từ giữa những năm 1940 cho đến đầu 1980 người ta vẫn thường dùng loại thuốc này cho những bệnh nhân tâm thần hung hãn hoặc có kiểu tự hủy hoại cơ thể như đập đầu vào tường. Có điều khi uống thuốc này kéo dài bệnh nhân thường bị phản ứng phụ là co cơ nhưng hiếm có trường hợp biến chứng quá nghiêm trọng. Liệu pháp "dĩ độc trị độc" Vì thế phác đồ điều trị mới của tiến sĩ Breuning là quả bom tấn vào thời điểm đầu 1980: không dùng thuốc an thần điều trị cho các bệnh nhân hung hãn mà phải dùng loại thuốc đối nghịch là thuốc kích thích (stimulant), kiểu “dĩ độc trị độc” vậy. Để bảo vệ luận điểm của mình, Breuning, giáo sư tại Đại học Pittsburgh (Mỹ), cùng Alan Poling của ĐH Western Michigan viết chung cuốn sách Thuốc và suy giảm tâm thần, trong đó họ cung cấp nhiều tư liệu chứng minh tác dụng độc hại của thuốc neuroleptic. Một năm sau, Breuning lại tung ra những kết quả nghiên cứu cho biết những thuốc kích thích như Ritalin hoặc Dexedrine hiệu quả hơn cho bệnh nhân tâm thần và lại không gây tác dụng phụ. Thậm chí nghiên cứu của Breuning cho biết chỉ số thông minh của các bệnh nhân sau khi uống thuốc kích thích lại còn tăng lên gấp đôi. Trong khoảng từ 1980 - 1983, Breuning đã viết 24 bài báo khoa học về neuroleptic và các vấn đề liên quan và các số liệu trong đó đều quá hoàn mỹ. Giới bác sĩ tâm thần ở Mỹ đã có lúc nghĩ đến chuyện từ bỏ loại thuốc an thần neuroleptic. Nhưng có một người vẫn thấy lấn cấn với công trình của Breuning. Đó là nhà tâm lý học Robert Sprague, giám đốc Viện Phát triển và Tâm thái trẻ em ở ĐH Illinois. Ông từng có 15 năm nghiên cứu về tác dụng của thuốc neuroleptic đối với các bệnh nhân trẻ em. Ông thấy các số liệu trong nghiên cứu của Breuning là không phù hợp nhưng ông hơi e ngại vì lẽ Breuning, dù nhỏ tuổi, nhưng được ông xem như người bạn đáng trọng vì tài năng và đầy nhiệt huyết. Lộ tẩy Mùa hè 1983, Breuning phạm sai lầm. Anh ta gửi cho Sprague bản tóm lược bài báo cáo mà anh ta sẽ giới thiệu với giáo sư Thomas Gualtieri ở ĐH North Carolina. Trong bản tóm lược, Sprague thấy Breuning khoe khoang dẫn số liệu của nghiên cứu kéo dài trong hai năm đối với các bệnh nhân ở Trung tâm Sức khỏe tâm thần Coldwater ở Michigan. Sprague biết chắc rằng vào thời điểm của “nghiên cứu” đó, Breuning đang ở cách xa Coldwater hàng trăm kilômet. Sprague cẩn thận kiểm tra thông tin với Neal Davidson, người phụ trách về tâm lý học tại Coldwater, và được biết chưa hề có nghiên cứu được đề cập thực hiện tại trung tâm. Sprague không phải là người duy nhất ngờ vực Breuning. Giáo sư Thomas Gualtieri, người từng đứng tên chung trong vài bài báo với Breuning, kể lại lần đầu gặp gỡ với nhà tâm lý học trẻ tuổi: “Tôi biết chắc mình đang gặp hoặc một thiên tài hoặc một kẻ lừa đảo”. Ông có lý của mình: Breuning chỉ trong ba năm đã đạt danh tiếng bằng của một nhà nghiên cứu tài giỏi phải mất mươi, mười lăm năm. Nhưng Sprague là người quyết tâm tìm hiểu kỹ lại những công trình nghiên cứu của Breuning. Khi đã tin chắc vào điều tra của mình, ông gọi điện hỏi thẳng Breuning và nhà nghiên cứu trẻ đành phải thú nhận. Sprague lẽ ra có thể bỏ qua vụ này, vì tình bạn, tình đồng nghiệp. Nhưng vốn là một bác sĩ chuyên chữa trị những bệnh nhân trẻ em và bản thân phải chăm sóc người vợ bị tiểu đường, ông cảm thấy căm giận nếu có nhà nghiên cứu giả mạo số liệu để biện hộ cho giải pháp điều trị của mình vì điều đó gây tốn kém tiền bạc và nguy hại cho sức khỏe bệnh nhân. Ngày 20-12-1983, Sprague ngồi vào bàn viết lá thư dài mười trang gửi cho Viện Quốc gia sức khỏe tâm thần (NIMH), cơ quan chính phủ đang cấp học bổng nghiên cứu cho Breuning, để nêu nghi ngờ về ba nghiên cứu đã bị giả mạo. NIMH sau đó chỉ yêu cầu ĐH Pittsburgh kiểm tra lại hai vụ và ĐH Pittsburgh sau đó chỉ cho điều tra vụ ở Coldwater. Chỉ riêng vụ này đã khiến Breuning phải lặng lẽ rời ĐH Pittsburgh tháng 3-1984. Phía ĐH Pittsburgh và NIMH cũng muốn vụ việc chìm xuồng. Sprague không muốn vậy vì vẫn còn những bác sĩ không biết về chuyện giả mạo và vẫn trích dẫn các nghiên cứu của Breuning. Ông viết bài tố cáo trên tạp chí Science. Nhưng phải mất nhiều tháng, tờ tạp chí này mới cho đăng tải về vụ Breuning khi hay tin có tờ báo đối thủ muốn thông tin. Nhà nghiên cứu đầu tiên bị kết tội Cuối cùng vào ngày 28-4-1987, tức ba năm rưỡi sau thư tố cáo đầu tiên của Sprague, ủy ban năm nhà khoa học của NIMH mới công bố kết quả điều tra là một báo cáo dài 32 trang. Quả là một cơn địa chấn: Breuning giả mạo mọi thứ. Chuyện thực hiện nghiên cứu trên 15.000 bệnh nhân là tưởng tượng. Nêu tên nữ cộng sự thì cô này lại khai không hề nghe nói gì về nghiên cứu của Breuning mà mình có cộng tác. Về bài báo Breuning cho biết phân tích số liệu về 10 bệnh nhân trẻ ở vùng Oakdale, giới chức địa phương cho biết vào lúc đó Breuning chỉ được phép nghiên cứu đối với… cá vàng và chuột! Trong báo cáo, Ủy ban của NIMH cũng quở trách ĐH Pittsburgh đã không thèm tổ chức điều tra sâu và chỉ thực hiện điều tra sau khi Breuning rời trường. Ủy ban kết luận: “Xét qua tất cả sự việc đó, tiến sĩ Stephen Breuning đã phạm thái độ tồi tệ trong khoa học”. Ủy ban theo đó yêu cầu cấm tài trợ cho Breuning trong mười năm và chuyển giao hồ sơ cho Bộ Tư pháp để khởi tố Breuning. Nhà nghiên cứu trẻ tuy vậy vẫn cãi chày cãi cối chuyện giả mạo số liệu và tiếp tục bảo vệ cho kết quả nghiên cứu của mình. Trong thời gian đó, Breuning thậm chí còn tìm được ghế giám đốc Ban tâm lý học và sửa trị hành vi tại Trung tâm Polk, cơ sở chăm sóc bệnh nhân tâm thần lớn nhất bang Pennsylvania. Đến tháng 4-1988, Bộ Tư pháp Mỹ có kết luận: Breuning bị kết tội giả mạo nghiên cứu để tìm được tài trợ 200.000 USD của NIMH. Với tội này, Breuning có thể phải ngồi gỡ lịch 15 năm. Các bên ngồi vào bàn thỏa hiệp để tránh phương hại đến uy danh của NIMH và ĐH Pittsburgh. Ngày 19-9-1988 Breuning phải ra trước tòa liên bang ở Baltimore để nhận tội giả mạo nghiên cứu. Ngày 12-11-1988, Breuning, lúc này đã về mở cửa hiệu bán thiết bị âm thanh, bị kết án 60 ngày ở nhà cải tạo, 250 giờ lao động công ích và năm năm thử thách, trong đó ông ta không được phép tham gia bất kỳ nghiên cứu nào trong lĩnh vực tâm lý học. Ông ta còn phải hoàn trả 11.352 USD. Đây là lần đầu tiên có một nhà nghiên cứu bị kết án gian dối trong khoa học ở Mỹ. Nhiều nhà khoa học đã tự hỏi về động cơ của Breuning. Ông ta không vì tiền bởi lẽ toàn bộ số tiền được tài trợ đều dành cho nghiên cứu. Một số người cho rằng vị giáo sư trẻ đã bị sức ép thường thấy ở những người bị lệ thuộc quá nhiều vào tiền tài trợ nên phải nhanh chóng công bố những kết quả “thành công như mong đợi”. Nhưng một số khác lại suy nghĩ rất đơn giản: Breuning quá tham vọng. Giáo sư Sprague có kết luận theo kiểu của mình, thâm thúy như tính cách kín đáo của ông: “Đó là những ham muốn thường thấy của con người: quyền lực, danh vọng, tiền bạc. Đó cũng là lý do khiến một số kẻ đã lừa đảo trong giới ngân hàng, gian dối trong hợp đồng mua bán vũ khí hoặc gian dối trên thị trường chứng khoán”. Ông cũng khẳng định chẳng bao giờ vui sướng khi thấy một ai đó gặp nạn. Nhưng “chuyện anh ta làm là chuyện nghiêm trọng. Nghiên cứu khoa học về thuốc men tâm thần không phải là chuyện đùa. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng của hàng chục ngàn bệnh nhân suy giảm tâm thần, những người hoàn toàn yếu ớt phải lệ thuộc vào thuốc. Để tưởng nhớ vợ tôi, tôi sẽ tiếp tục đấu tranh cho đến khi hệ thống này thay đổi và người ta phải hành động nhanh hơn và công bằng hơn khi đối diện với những điều đáng ngờ trong nghiên cứu y học”. Nay ông thấy lòng thanh thản thật sự dù rằng sau vụ tố cáo đó ông không còn kiếm tài trợ tài chính dễ dàng từ NIMH như 17 năm trước đó nữa. NGUYỄN QUÂN tổng hợp
Những vụ lừa dối đáng nhớ Vụ “bệnh nhân ma” Cách đây vài tháng, tạp chí y học danh tiếng The Lancet của Anh đã dính phải “quả lừa”: một nghiên cứu đầy đặn về ung thư miệng ký tên đồng tác giả những 14 nhà khoa học quốc tế. Nhà nghiên cứu chủ xị là bác sĩ người Na Uy Jon Sudbo, 44 tuổi, sau đó thú nhận đã dựng ra hàng trăm hồ sơ bệnh án để làm đầy đặn cho nghiên cứu của mình. Các vị đồng ký tên hoàn toàn vô can vì bị “xỏ mũi”. Gen đồng tính Năm 1993 tiến sĩ Dean Hamer (Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ) đăng một bài trên tạp chí Science trong đó nói rằng ông đã phát hiện được “gen gây đồng tính ái”, hay chính xác hơn là một chỉ dấu lạ trên nhiễm sắc thể X thường thấy ở phần lớn những người đàn ông đồng tính ái. Thông tin chấn động quá đi mất vì như thế đồng tính ái không bị xem là bệnh lý mà là có chất di truyền. Nhưng khi bình tĩnh xem xét lại, người ta phát hiện nhiều kết quả trong nghiên cứu đã bị thổi phồng quá mức, chưa kể phương pháp nghiên cứu có vấn đề. Vụ hợp nhân lạnh Năm 1989, vào lúc mà người ta còn đang phân vân tự hỏi không biết liệu dự án ITER (Lò phản ứng thử nghiệm nhiệt hạch quốc tế) có đủ khả năng thực hiện tái hợp hạt nhân trong lò phản ứng khổng lồ hay không thì Stanley Pons cùng đồng nghiệp Martin Fleishmann - hai nhà điện hóa học của ĐH Utah (Mỹ), tuyên bố đã thực hiện được phản ứng hợp nhân có kiểm soát ở nhiệt độ bình thường (tạo ra helium từ nguyên tử hydro) bằng cách đưa vào trong nước nặng một cây kim bằng palladium. Giá palladium ngoài thị trường nhảy vọt lên như tên lửa và tất cả các phòng thí nghiệm trên thế giới đều đổ xô vào thực hiện “hợp nhân lạnh”. Tất nhiên họ chẳng bao giờ làm lại được thí nghiệm như Pons và Fleishmann đã công bố vì hai nhà khoa học trên đã giả mạo các số liệu. Vụ bộ tộc tiền sử Năm 1972, Manuel Elizalde, công chức trẻ dưới trào chính phủ Marcos, “phát hiện” được một bộ tộc tiền sử ở Philippines. Bộ tộc ăn lông ở lỗ này, được đặt tên là Tasaday, lập tức lên ngay bìa một của tờ tạp chí National Geographic, và Đài truyền hình NBC không ngần ngại ký ngay tấm ngân phiếu 50.000 USD cho Elizalde thực hiện bộ phim tài liệu về cộng đồng độc đáo đó. Ba năm sau người ta mới té ngửa ra rằng bộ tộc thời hồng hoang đó kỳ thực là những thổ dân địa phương được mời đóng vai người tiền sử sống trong hang đá.